Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

(Bài cuối) Bài 4: Nhận diện các luận điệu xuyên tạc quanh chế định luật sư công

Nhóm PV 30/04/2026 12:39

Các luận điệu bóp méo chủ trương, chính sách thường xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau, trong đó đáng lo ngại hơn là những chiến dịch có chủ đích nhằm làm suy giảm niềm tin xã hội vào thể chế, biến vấn đề kỹ thuật pháp lý thành câu chuyện chính trị.

bai4-cover-lsc.png

Các luận điệu bóp méo chủ trương, chính sách thường xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau, trong đó đáng lo ngại hơn là những chiến dịch có chủ đích nhằm làm suy giảm niềm tin xã hội vào thể chế, biến vấn đề kỹ thuật pháp lý thành câu chuyện chính trị.

Xoay quanh tuyến bài “Nhận diện phản bác luận điệu xuyên tạc quanh chế định luật sư công”, phóng viên Báo Công lý đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Đào Trung Hiếu, chuyên gia tội phạm học, nhằm làm rõ các biểu hiện và cơ chế của các chiến dịch thao túng nhận thức liên quan đến chính sách này.

bai-4-t1-lsc.png

PV: Việc thí điểm chế định luật sư công được xem là bước thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, trước và sau khi chính sách được Quốc hội thông qua đã xuất hiện nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc trên không gian mạng. Dưới góc độ chuyên gia, ông đánh giá như thế nào về hiện tượng này?

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Tôi cho rằng hiện tượng xuất hiện thông tin sai lệch, xuyên tạc quanh chế định luật sư công là điều cần được nhìn nhận trong bối cảnh rộng hơn của truyền thông chính sách hiện nay.

Nghị quyết thí điểm chế định luật sư công là một chính sách mới, có tính cải cách, liên quan trực tiếp đến tổ chức quyền lực nhà nước, bảo vệ lợi ích công và nâng cao năng lực pháp lý của khu vực công, nên rất dễ trở thành đối tượng bị cắt ghép, suy diễn hoặc chính trị hóa trên mạng xã hội.

Điểm đáng nói là nhiều thông tin xuyên tạc không phản biện vào nội dung thật của nghị quyết, mà cố tình dựng lên một hình ảnh méo mó: biến luật sư công thành “luật sư của quyền lực”, biến cơ chế hỗ trợ pháp lý cho Nhà nước thành công cụ “đối đầu với dân”, rồi từ đó gieo hoài nghi vào tính khách quan của tòa án, của cơ quan công quyền và của chủ trương cải cách tư pháp.

Đây là thủ đoạn quen thuộc: không tranh luận trên nền tảng văn bản mà đánh vào cảm xúc; không phân tích điều kiện, phạm vi, nguyên tắc hoạt động của luật sư công mà kích hoạt tâm lý nghi ngờ đối với các thiết chế nhà nước.

Về bản chất, luật sư công không phải là người thay thế luật sư tư, càng không phải là người làm biến dạng quyền bào chữa của công dân. Chế định này nhằm tăng năng lực pháp lý trong hoạt động công vụ, nhất là ở những lĩnh vực quản lý phức tạp, phát sinh nhiều tranh chấp hành chính, dân sự, kinh tế, quốc tế. Vì vậy, đánh đồng luật sư công với “công cụ quyền lực” là cách hiểu vừa phiến diện, vừa có dụng ý làm nhiễu nhận thức xã hội.

bai-4-anh1.png

PV: Nghị quyết của Quốc hội quy định tiêu chuẩn của luật sư công là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan công an, quân đội và người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước. Thế nhưng, một số ý kiến trên mạng cho rằng “công an, quân đội làm luật sư công thì phiên tòa sẽ thiếu khách quan” hoặc “vừa là công an, cán bộ vừa là luật sư thì không thể độc lập”. Ông nhìn nhận ra sao về những luận điểm này?

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Tôi cho rằng luận điểm “công an, quân đội làm luật sư công thì phiên tòa sẽ thiếu khách quan” là một sự đánh tráo khái niệm. Tính khách quan của phiên tòa không được quyết định bởi xuất thân nghề nghiệp của một người tham gia với tư cách luật sư công, mà được bảo đảm bởi cấu trúc tố tụng, nguyên tắc xét xử độc lập, tranh tụng, kiểm soát quyền lực, quy tắc đạo đức nghề nghiệp và giới hạn thẩm quyền được pháp luật quy định.

Theo thông tin được công bố, đối tượng có thể được xem xét bổ nhiệm luật sư công gồm cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an và người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, nhưng đó mới chỉ là điều kiện về nguồn nhân lực. Một người muốn trở thành luật sư công vẫn phải đáp ứng tiêu chuẩn, phạm vi công việc, quyền, nghĩa vụ và quy trình giải quyết công việc theo nghị quyết thí điểm. Nghị quyết gồm 12 điều, không phải là một sự “mở cửa tùy tiện” cho bất kỳ ai trong hệ thống công quyền tham gia hoạt động pháp lý theo ý chí chủ quan.

Cần phân biệt rành mạch giữa “thuộc khu vực công” và “không thể độc lập về chuyên môn”. Trên thế giới, luật sư nhà nước, công tố viên, luật sư công, trợ giúp viên pháp lý, cố vấn pháp luật của chính phủ là những thiết chế rất phổ biến, nhưng vấn đề cốt lõi luôn là cơ chế bảo đảm độc lập nghề nghiệp, trách nhiệm giải trình, phòng ngừa xung đột lợi ích và minh bạch phạm vi đại diện.

Ngay các Nguyên tắc cơ bản của Liên Hợp Quốc về vai trò của luật sư cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm mọi người được tiếp cận luật sư, luật sư được hoạt động không bị can thiệp trái pháp luật, bảo đảm bí mật trao đổi giữa luật sư và khách hàng, đồng thời luật sư phải hành nghề trung thành với lợi ích hợp pháp của người mình bảo vệ.

Vì vậy, nếu lo ngại, chúng ta nên góp ý để quy định rõ hơn về xung đột lợi ích, phạm vi tham gia tố tụng, cơ chế giám sát đạo đức, trách nhiệm giải trình và các trường hợp phải từ chối nhiệm vụ. Nhưng nói rằng cứ là công an, quân đội hoặc người trong khu vực công thì đương nhiên không thể làm luật sư công là một kết luận cảm tính, không dựa trên lý luận pháp lý hiện đại.

bai-4-t2-lsc.png

PV: Các luận điệu xuyên tạc thường khai thác những “điểm mù” để gây hoài nghi đối với chủ trương, chính sách? Theo ông vì sao các thông tin sai lệch, xuyên tạc về chính sách thường lan nhanh và tạo ảnh hưởng lớn hơn so với thông tin chính thống trên mạng xã hội?

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Thông tin sai lệch về chính sách thường lan nhanh hơn thông tin chính thống vì nó khai thác rất giỏi ba điểm yếu của truyền thông xã hội: cảm xúc, sự đơn giản hóa và tâm lý nghi ngờ quyền lực. Một chính sách mới thường có nhiều điều khoản, nhiều giới hạn, nhiều tầng kỹ thuật pháp lý; trong khi tin xuyên tạc chỉ cần một câu ngắn, một hình ảnh gây sốc, một suy diễn cực đoan là có thể kích hoạt phản ứng đám đông.

Điều này lý giải vì sao những luận điệu kiểu “luật sư công là luật sư của quyền lực” dễ lan hơn một bài phân tích đầy đủ về phạm vi, tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ của luật sư công. Ở đây còn có một yếu tố đáng chú ý: chính sách càng mới, càng nhiều thuật ngữ pháp lý, càng dễ bị chiếm lĩnh diễn giải bởi người nói nhanh nhất, chứ không phải người nói đúng nhất. Nếu thông tin chính thống chậm, khô, nặng văn bản, thiếu ví dụ gần đời sống, thì khoảng trống nhận thức sẽ bị lấp đầy bởi các nội dung giật gân. Vì vậy, truyền thông chính sách không thể chỉ “công bố văn bản”, mà phải giải thích chính sách, dự báo điểm dễ hiểu sai và chủ động tháo gỡ nghi ngờ của người dân.

bai-4-anh2.png

PV: Vậy theo ông, làm thế nào để phân biệt rõ giữa “thông tin sai lệch, xuyên tạc” và “ý kiến phản biện chính sách” trên không gian mạng?

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Cần phân biệt rất rõ giữa phản biện chính sách và xuyên tạc chính sách. Phản biện chính sách là hoạt động lành mạnh, cần thiết trong một xã hội pháp quyền. Người phản biện có thể không đồng tình, có thể đề nghị sửa đổi, có thể chỉ ra rủi ro, nhưng họ dựa trên văn bản, dựa trên lý lẽ, tôn trọng sự thật và hướng đến hoàn thiện chính sách.

Ngược lại, thông tin sai lệch, xuyên tạc thường có mấy dấu hiệu. Một là trích dẫn không đầy đủ, chỉ lấy một chi tiết rồi thổi phồng thành bản chất toàn bộ chính sách. Hai là gán động cơ chính trị xấu cho chủ trương mà không có căn cứ. Ba là dùng ngôn ngữ kích động, quy chụp, tạo đối lập giả giữa Nhà nước và người dân. Bốn là không đề xuất giải pháp, chỉ gieo sợ hãi, hoài nghi và bất tín. Năm là cố tình lặp lại cùng một thông điệp ở nhiều tài khoản, nhiều nhóm, nhiều nền tảng để tạo cảm giác “dư luận đang đồng loạt phản đối”.

Vì vậy, một ý kiến nói rằng “cần quy định chặt hơn về xung đột lợi ích của luật sư công” là phản biện chính sách. Nhưng một luận điệu nói rằng “công an, quân đội làm luật sư công là để bịt miệng dân” lại là xuyên tạc, vì nó không chứng minh bằng văn bản, không phân tích cơ chế, mà chỉ đánh vào tâm lý lo ngại và định kiến.

bai-4-t3-lsc.png

PV: Theo ông, các luận điệu xuyên tạc, bóp méo chủ trương, chính sách của Đảng trên không gian mạng thường xuất phát từ những động cơ nào? Có thể nhận diện sớm các chiến dịch thông tin có chủ đích qua những dấu hiệu cụ thể nào?

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Các luận điệu bóp méo chủ trương, chính sách thường xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau. Có người vì thiếu hiểu biết pháp lý nên chia sẻ theo cảm tính. Có người vì muốn câu tương tác, khai thác tâm lý bức xúc để tăng ảnh hưởng cá nhân. Có nhóm lợi ích không muốn chính sách mới đi vào cuộc sống vì chính sách đó có thể làm tăng minh bạch, tăng kỷ luật công vụ, giảm khoảng trống pháp lý mà họ từng lợi dụng.

Nguy hiểm hơn là các chiến dịch có chủ đích nhằm làm suy giảm niềm tin xã hội vào thể chế, biến một vấn đề kỹ thuật pháp lý thành một câu chuyện đối kháng chính trị.

Có thể nhận diện sớm các chiến dịch thông tin có chủ đích qua một số dấu hiệu: thông điệp xuất hiện đồng loạt trong thời gian ngắn; nhiều tài khoản dùng cùng một cụm từ, cùng một hình ảnh, cùng một cách diễn giải; nội dung cố tình bỏ qua nguồn chính thống; bình luận bị dẫn dắt theo hướng phẫn nộ; các tài khoản mới lập hoặc ít thông tin cá nhân tham gia khuếch đại; và đặc biệt là sự chuyển hướng rất nhanh từ góp ý chính sách sang công kích thể chế. Đây không còn là tranh luận tự nhiên, mà có dấu hiệu của thao túng nhận thức.

PV: Về lâu dài, cần xây dựng những cơ chế hoặc nền tảng nào để chủ động nhận diện, phản bác và hạn chế tác động của các chiến dịch thông tin sai lệch nhằm vào chủ trương, chính sách của Đảng?

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Về lâu dài, muốn hạn chế tác động của các chiến dịch sai lệch nhằm vào chủ trương, chính sách của Đảng, cần xây dựng một hệ sinh thái bảo vệ tính liêm chính thông tin.

Theo tôi, có ba việc rất quan trọng. Trước hết, phải đổi mới truyền thông chính sách theo hướng nhanh hơn, dễ hiểu hơn, có khả năng dự báo điểm bị xuyên tạc. Mỗi chính sách lớn nên có bản giải thích ngắn, hỏi đáp tình huống, đồ họa, video, ví dụ thực tiễn và phần “những cách hiểu sai thường gặp”.

Thứ hai, cần có cơ chế phản ứng sớm, không để thông tin sai lan rộng nhiều ngày rồi mới đính chính. Cơ quan chức năng, báo chí chính thống, chuyên gia độc lập và các nền tảng số cần phối hợp trong việc phát hiện sớm, gắn nhãn cảnh báo, giải thích lại bằng ngôn ngữ dễ tiếp nhận.

bai-4-anh3.png

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều nước đã thúc đẩy cơ chế phối hợp giữa nhà nước, nền tảng công nghệ, giới nghiên cứu, báo chí và tổ chức kiểm chứng thông tin để chống tin giả, nhưng vẫn phải bảo vệ quyền tự do biểu đạt và phản biện hợp pháp.

Thứ ba, phải nâng cao năng lực miễn dịch thông tin của người dân. Một xã hội không thể chỉ chống tin giả bằng xử phạt, mà phải bằng giáo dục truyền thông, tư duy phản biện, kỹ năng kiểm chứng nguồn, khả năng đọc văn bản chính sách và văn hóa tranh luận có trách nhiệm. Khi người dân hiểu đúng, có kênh hỏi đáp tin cậy và thấy chính sách được giải thích minh bạch, thì các luận điệu xuyên tạc sẽ khó có đất sống hơn.

Nói ngắn gọn, chế định luật sư công là một bước thử nghiệm chính sách cần được theo dõi, đánh giá, hoàn thiện bằng lý lẽ pháp quyền. Phản biện là cần thiết, nhưng xuyên tạc thì phải nhận diện và bác bỏ. Một nhà nước hiện đại không sợ phản biện, nhưng cũng không thể để các chiến dịch bóp méo chính sách thao túng nhận thức xã hội.

PV: Xin cám ơn ông!

Mời độc giả đọc Loạt bài: NHẬN DIỆN, PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC QUANH CHẾ ĐỊNH LUẬT SƯ CÔNG

* Bài 1: Từ kinh nghiệm quốc tế đến bước đi thí điểm luật sư công tại Việt Nam

* Bài 2: Thí điểm luật sư công: Tăng năng lực pháp lý Nhà nước, tạo môi trường minh bạch cho doanh nghiệp

* Bài 3: Khi chính sách chưa ban hành đã bị ‘bóp méo’

Nhóm PV 30/04/2026 - 12:39
(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
(Bài cuối) Bài 4: Nhận diện các luận điệu xuyên tạc quanh chế định luật sư công