Việc Quốc hội thông qua Nghị quyết thí điểm chế định luật sư công là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực quản trị pháp lý và bảo vệ lợi ích công trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Tuy nhiên, ngay khi chính sách còn trong quá trình thảo luận, trên không gian mạng đã xuất hiện nhiều luận điệu xuyên tạc, cố tình bóp méo bản chất của chủ trương này.

Việc Quốc hội thông qua Nghị quyết thí điểm chế định luật sư công là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực quản trị pháp lý và bảo vệ lợi ích công trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Tuy nhiên, ngay khi chính sách còn trong quá trình thảo luận, trên không gian mạng đã xuất hiện nhiều luận điệu xuyên tạc, cố tình bóp méo bản chất của chủ trương này.

Thực tiễn phát triển đất nước đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc quản lý xã hội bằng pháp luật, xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả. Tinh thần này đã được khẳng định rõ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, với định hướng tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, các thiết chế trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, bổ trợ tư pháp và các thiết chế khác, góp phần xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, bao gồm cả phương thức nâng cao hiệu quả các cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Toà án.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 nhấn mạnh các nguyên tắc cốt lõi như bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc. Đây chính là nền tảng chính trị pháp lý quan trọng để tiếp tục đổi mới, hoàn thiện các thiết chế tư pháp, trong đó có chế định luật sư công.
Bên cạnh đó, Kết luận số 69-KL/TW ngày 24/2/2020 của Ban Bí thư và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị đều đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển đội ngũ luật sư, từng bước hình thành chế định luật sư công phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
.png)
Mới đây, Kết luận số 23-KL/TW ngày 7/4/2026 của Bộ Chính trị đã thông qua chủ trương thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 tỉnh, thành phố trong giai đoạn từ 1/10/2026 đến 30/9/2028.
Việc xây dựng chế định luật sư công cũng xuất phát từ thực tiễn khi số lượng vụ án hành chính gia tăng, tính chất ngày càng phức tạp, trong khi nhiều cơ quan nhà nước còn gặp khó khăn trong tham gia tố tụng, chuẩn bị hồ sơ.
Ở bình diện quốc tế, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, các tranh chấp đầu tư và thương mại quốc tế ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về sự tham gia kịp thời của đội ngũ pháp lý chuyên sâu nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Việt Nam vẫn chưa có mô hình luật sư công, dẫn đến việc trong nhiều vụ tranh chấp quốc tế phải thuê luật sư nước ngoài.
Một trường hợp điển hình là vụ kiện của công dân Hoa Kỳ đối với Chính phủ Việt Nam tại Trung tâm Trọng tài quốc tế, liên quan đến dự án xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng South Fork (tỉnh Bình Thuận). Thực trạng này không chỉ làm gia tăng chi phí ngân sách nhà nước mà còn ảnh hưởng đến khả năng chủ động và kiểm soát về mặt pháp lý trong quá trình xử lý tranh chấp quốc tế.

Theo Nghị quyết được Quốc hội thông qua, luật sư công là những người đang công tác trong khu vực nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật Luật sư. Đội ngũ này thực hiện các nhiệm vụ như tư vấn pháp lý, tham gia tố tụng, đại diện giải quyết tranh chấp trong nước và quốc tế, đồng thời tham gia xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp.
Về tiêu chuẩn, Nghị quyết quy định đối tượng có thể được xem xét gồm cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Công an nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân và người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, người được xem xét phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính; đáp ứng tiêu chuẩn luật sư theo quy định của pháp luật và có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc thường xuyên, trực tiếp trong lĩnh vực pháp luật hoặc có kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật, giải quyết các vụ việc pháp lý phức tạp theo quy định của Chính phủ.
.png)
Như vậy, việc thí điểm chế định luật sư công nhằm xây dựng đội ngũ nhân lực pháp lý chuyên sâu, đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ tư vấn pháp lý, tham gia tố tụng, đại diện giải quyết tranh chấp trong nước và quốc tế; tham gia xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp; qua đó góp phần phòng ngừa rủi ro pháp lý từ sớm, từ xa.
Cần khẳng định, luật sư công không phải là một “đặc quyền” hay cơ chế hành chính hóa hoạt động luật sư. Đây là thiết chế pháp lý phục vụ khu vực công, được tổ chức trên cơ sở pháp luật, chịu sự ràng buộc chặt chẽ về tiêu chuẩn nghề nghiệp, trách nhiệm công vụ và chuẩn mực đạo đức.
Người được bổ nhiệm phải đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định, có trình độ chuyên môn pháp lý, kinh nghiệm thực tiễn, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực xử lý các vụ việc phức tạp.
Đáng chú ý, Nghị quyết cũng đặt ra cơ chế bảo đảm tính độc lập về chuyên môn đối với luật sư công. Người hành nghề có quyền bảo lưu ý kiến pháp lý, từ chối thực hiện yêu cầu trái pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quan điểm chuyên môn của mình. Điều đó cho thấy mục tiêu của chính sách không phải tạo thêm thủ tục hay quyền lực mới, mà là tăng cường năng lực pháp lý cho cơ quan nhà nước, bảo vệ lợi ích công bằng những công cụ pháp lý hiện đại, chuyên nghiệp.

Dù nội dung chính sách được xây dựng công khai, thảo luận dân chủ tại nghị trường, song ngay từ khi còn ở giai đoạn dự thảo, một số đối tượng đã lợi dụng không gian mạng để tung ra những thông tin sai lệch, xuyên tạc bản chất vấn đề.
Thủ đoạn quen thuộc là cắt xén thông tin, đánh tráo khái niệm, bóp méo nội dung chính sách rồi đưa ra những luận điệu suy diễn thiếu căn cứ như: “công an, quân đội làm luật sư công thì phiên tòa không cần xử cũng biết ai thắng”; “vừa là cán bộ, vừa là luật sư thì không thể độc lập”; “luật sư công đại diện cho quyền lực nên cán cân pháp lý sẽ lệch”; hay “Nhà nước dùng người của mình để bảo vệ mình, chẳng khác nào vừa đá bóng, vừa thổi còi”...

Thực chất, đây là sự quy chụp có chủ đích, cố tình “biến dạng” nội dung chính sách để dẫn dắt dư luận theo hướng nhận thức sai lệch. Các đối tượng đã tách một chi tiết kỹ thuật ra khỏi tổng thể chính sách, rồi gán ghép những ý nghĩa tiêu cực không phản ánh đúng bản chất của chế định luật sư công.
Từ việc dự thảo quy định một số đối tượng đủ điều kiện có thể được xem xét trở thành luật sư công, các đối tượng suy diễn thành “phiên tòa đã biết ai thắng”. Đây là cách lập luận thiếu thiện chí, không có cơ sở pháp lý và đi ngược nguyên tắc tranh tụng, xét xử độc lập của tòa án đã được pháp luật Việt Nam quy định rõ.
Cần thấy rằng, luật sư công không phải là người tiến hành tố tụng, không phải người ra phán quyết, càng không thể thay thế vai trò của cơ quan xét xử. Trong mọi vụ việc, việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật và đưa ra phán quyết thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng theo luật định.
Do đó, việc cố tình gán ghép sự xuất hiện của luật sư công với thiên vị hay áp đặt kết quả xét xử chỉ là ngụy biện nhằm gây hoang mang dư luận, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với tiến trình cải cách tư pháp.
Cũng cần khẳng định, chế định luật sư công không phải là cơ chế “hành chính hóa” hoạt động luật sư, mà là một thiết chế nhằm tăng cường năng lực pháp lý cho khu vực công. Theo quy định, luật sư công được bảo đảm tính độc lập về chuyên môn, có quyền bảo lưu ý kiến pháp lý, từ chối thực hiện yêu cầu trái pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quan điểm nghề nghiệp của mình. Đây là yếu tố quan trọng bảo đảm tính khách quan, minh bạch trong hoạt động tư vấn và bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật.
Kết luận số 23-KL/TW của Bộ Chính trị cũng nêu rõ, nguồn để hình thành đội ngũ luật sư công không chỉ từ cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan lực lượng vũ trang, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, mà còn từ luật sư, chuyên gia, nhà khoa học, luật gia có kinh nghiệm đang công tác tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị ngoài khu vực công lập, được tiếp nhận vào làm cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan thuộc lực lượng vũ trang theo quy định hiện hành.
Từ thực tiễn cho thấy, bên cạnh vai trò tham gia tố tụng trong nước và quốc tế, đội ngũ luật sư công còn giữ vị trí quan trọng trong tư vấn, hỗ trợ xử lý các vụ việc phức tạp, kéo dài, đặc biệt trong những lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, hành chính và chính sách công.
Nhìn nhận đầy đủ và khách quan, đây là bước đi tiến bộ, phù hợp xu hướng quản trị hiện đại, đã và đang được nhiều quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Pháp áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời phòng ngừa rủi ro pháp lý từ sớm, từ xa.
Thực tế cũng cho thấy, mỗi khi đất nước triển khai chủ trương mới liên quan đến hoàn thiện thể chế, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, các thế lực thù địch lại tìm cách bóp méo, xuyên tạc dưới chiêu bài “phản biện”, “dân chủ”, “tự do ngôn luận”.
Tuy nhiên, phản biện xã hội chân chính phải dựa trên thông tin đúng đắn, tinh thần xây dựng và sự tôn trọng pháp luật. Mọi hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để xuyên tạc, kích động, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đều cần bị lên án và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, xác định rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
.png)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ sống còn của cách mạng Việt Nam, trong đó phải đặc biệt tỉnh táo trước những luận điệu núp bóng dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận để chống phá Đảng, Nhà nước, nhất là trên không gian mạng. Đây là chỉ đạo mang tính chiến lược, khẳng định rõ ranh giới giữa bảo đảm quyền tự do chính đáng và kiên quyết đấu tranh, không dung túng với sự lợi dụng tự do để phá hoại nền tảng chính trị tư tưởng của đất nước.
Trên phương diện thực thi pháp luật, đại diện Bộ Công an cũng khẳng định nhất quán không xử lý các ý kiến phản biện mang tính xây dựng, không hình sự hóa quan điểm khác biệt nhưng kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gây phương hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Đây là ranh giới pháp lý minh bạch, không thể và không được phép nhập nhèm.
Có thể thấy, trong bối cảnh thông tin đa chiều, việc nhận diện đúng bản chất chính sách, tránh các cách hiểu sai lệch là yêu cầu quan trọng, góp phần bảo đảm sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách của Nhà nước.
Mời độc giả đọc Loạt bài: NHẬN DIỆN, PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC QUANH CHẾ ĐỊNH LUẬT SƯ CÔNG
* Bài 1: Từ kinh nghiệm quốc tế đến bước đi thí điểm luật sư công tại Việt Nam
* Bài 2: Thí điểm luật sư công: Tăng năng lực pháp lý Nhà nước, tạo môi trường minh bạch cho doanh nghiệp
* Bài 4: Nhận diện các luận điệu xuyên tạc quanh chế định luật sư công