Luật Bảo vệ bí mật nhà nước 2025 nghiêm cấm xác định bí mật nhà nước đối với thông tin không thuộc danh mục và cấm sử dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo để xâm phạm bí mật nhà nước. Nhiều quy định mới về thẩm quyền, phân loại và thời hạn bảo vệ cũng chính thức được áp dụng.
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (Luật số 117/2025/QH15) do Bộ Công an chủ trì xây dựng, được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10, chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2026.
Luật quy định về bí mật nhà nước, bảo vệ bí mật nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; đồng thời sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng liên quan đến hành vi bị nghiêm cấm, phạm vi và phân loại bí mật nhà nước, thẩm quyền xác định độ mật, cung cấp, chuyển giao và thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước.
Bổ sung quy định mới về dữ liệu số, siết chặt hành vi bị nghiêm cấm
Một trong những điểm đáng chú ý của Luật năm 2025 là bổ sung hai khái niệm mới nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước.

Theo đó, “mạng LAN độc lập” được xác định là mạng máy tính cục bộ thiết lập trong phạm vi một trụ sở cơ quan, tổ chức, không kết nối với Internet, mạng viễn thông hoặc mạng máy tính khác có kết nối ra bên ngoài và có biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn. Quy định này tạo cơ sở pháp lý thống nhất để soạn thảo, lưu giữ, gửi, nhận tài liệu bí mật nhà nước trong môi trường số.
Luật cũng bổ sung khái niệm “văn bản điện tử bí mật nhà nước” là văn bản chứa bí mật nhà nước dưới dạng dữ liệu số được người có thẩm quyền xác định. Việc bổ sung này phù hợp với lộ trình chuyển đổi số quốc gia, từng bước giảm sử dụng tài liệu giấy trong cơ quan, tổ chức.
Bên cạnh đó, Luật sửa đổi khái niệm bí mật nhà nước theo hướng do “người có thẩm quyền” xác định thay vì quy định cứng là người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Theo quy định, người có thẩm quyền xác định bí mật nhà nước và độ mật là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
Về các hành vi bị nghiêm cấm, Luật bổ sung quy định nghiêm cấm xác định bí mật nhà nước đối với thông tin không thuộc danh mục bí mật nhà nước, khắc phục tình trạng “đóng dấu mật” không đúng quy định. Đồng thời, nghiêm cấm sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để xâm phạm bí mật nhà nước, dù cho phép ứng dụng công nghệ trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước.
Luật cũng sửa đổi quy định theo hướng cho phép soạn thảo, lưu giữ, gửi, nhận bí mật nhà nước trên “mạng LAN độc lập”; bổ sung quy định nghiêm cấm sử dụng máy tính, thiết bị để soạn thảo, lưu giữ tài liệu bí mật khi chưa bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống xâm nhập, cài đặt mã độc, phần mềm gián điệp.
Mở rộng phân cấp, điều chỉnh phạm vi và giữ nguyên thời hạn bảo vệ
Về phạm vi bí mật nhà nước, Luật cơ bản kế thừa quy định trước đây nhưng điều chỉnh theo mô hình tổ chức bộ máy mới và giới hạn trong các lĩnh vực thật sự cần bảo vệ như hoạt động lập hiến, lập pháp; quốc phòng, an ninh; thông tin y tế có nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng; công tác tổ chức cán bộ cấp cao.
Đồng thời, nhiều thông tin đã công khai hoặc không còn phù hợp được đưa ra khỏi phạm vi bí mật nhà nước, góp phần bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân và nâng cao tính minh bạch trong quản lý nhà nước.
Về phân loại, Luật bổ sung thông tin khoa học công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vào độ Tuyệt mật; sửa đổi cách xác định độ Tối mật và độ Mật theo hướng dẫn chiếu đến các lĩnh vực quy định trong Luật, bảo đảm tính khái quát và đầy đủ.
Đáng chú ý, Luật mở rộng thẩm quyền xác định bí mật nhà nước và độ mật cho cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức; mở rộng thẩm quyền sao, chụp tài liệu bí mật nhà nước đến một số cơ quan tổ chức theo mô hình khu vực và cấp xã. Việc bãi bỏ thủ tục ủy quyền cho cấp phó được đánh giá là góp phần tăng cường phân cấp, phân quyền và cắt giảm thủ tục hành chính nội bộ.
Đối với việc cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước độ Tuyệt mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, ngoài Thủ tướng Chính phủ, Luật bổ sung thẩm quyền cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội quyết định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể.
Luật giữ nguyên thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước: 30 năm đối với độ Tuyệt mật, 20 năm đối với độ Tối mật và 10 năm đối với độ Mật. Đồng thời, bổ sung quy định về thời hạn bảo vệ đối với dự thảo văn bản chứa bí mật nhà nước và giao Chính phủ quy định việc gia hạn thời hạn bảo vệ đối với văn bản điện tử bí mật nhà nước.
Việc ban hành và triển khai Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ, chặt chẽ, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và tiến trình chuyển đổi số, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước.