Từ ngày 1/7/2026, việc chuyển đổi hình phạt tù đối với người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài được tiếp nhận về Việt Nam sẽ được thực hiện theo quy định mới tại Thông tư liên tịch số 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC.
Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) vừa ban hành Thông tư liên tịch số 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 22/6/2026 quy định chi tiết Điều 25 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026, thay thế Điều 19 Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT-BCA-BTP-BNG-VKSNDTC-TANDTC, trừ trường hợp chuyển tiếp theo Điều 48 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Thông tư áp dụng đối với TAND các cấp, VKSND các cấp, Bộ Công an, người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài được tiếp nhận về Việt Nam và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Theo quy định, việc chuyển đổi hình phạt tù phải bảo đảm phù hợp với Bộ luật Hình sự, Luật Tư pháp người chưa thành niên và các quy định khác của pháp luật Việt Nam trong trường hợp hình phạt mà tòa án của nước chuyển giao đã tuyên không tương thích với pháp luật Việt Nam.
Việc chuyển đổi phải tuân thủ quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 25 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Đáng chú ý, Thông tư nhấn mạnh nguyên tắc không chuyển đổi hình phạt tù thành bất kỳ loại hình phạt nào khác.
Về trình tự thực hiện, khi kiểm tra hồ sơ đề nghị chuyển giao, Bộ Công an có trách nhiệm đánh giá ban đầu về tội phạm, điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt theo quy định của pháp luật Việt Nam, căn cứ vào các tình tiết được nêu trong bản án, quyết định của tòa án nước chuyển giao.
Trong trường hợp cần thiết, Bộ Công an sẽ lấy ý kiến của TANDTC và VKSNDTC. Hai cơ quan này phải có văn bản trả lời trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị.
Trên cơ sở hồ sơ vụ án, ý kiến của Bộ Công an và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên họp, Tòa án có thẩm quyền sẽ quyết định việc chuyển đổi hình phạt tù. Nội dung chuyển đổi phải thể hiện đầy đủ điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt trong quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù về Việt Nam.
Đối với người thành niên, Thông tư quy định nếu người được chuyển giao bị tuyên phạt trên 30 năm tù đối với nhiều tội thì thời hạn phải tiếp tục chấp hành tại Việt Nam cao nhất là 30 năm tù. Trường hợp bị tuyên trên 20 năm tù đối với một tội thì mức hình phạt sau chuyển đổi cao nhất là 20 năm tù.
Nếu người được chuyển giao bị tuyên phạt tù chung thân nhưng theo quy định của pháp luật Việt Nam hành vi đó chỉ bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn thì Tòa án sẽ chuyển đổi sang mức án tù có thời hạn phù hợp, bảo đảm không vượt quá các giới hạn nêu trên.
Đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, mức hình phạt sau chuyển đổi tối đa là 15 năm tù nếu bị tuyên tù chung thân. Riêng trường hợp phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng gồm giết người, hiếp dâm, hiếp dâm người dưới 16 tuổi, cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và sản xuất trái phép chất ma túy, mức tối đa được nâng lên 18 năm tù.
Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, mức hình phạt cao nhất sau chuyển đổi là 9 năm tù; riêng các tội đặc biệt nghiêm trọng nêu trên, mức cao nhất là 12 năm tù.
Thông tư cũng quy định, nếu sau khi chuyển đổi, thời hạn tù phải chấp hành bằng hoặc thấp hơn thời gian người đó đã chấp hành tại nước ngoài thì Thẩm phán chủ trì phiên họp phải tuyên bố trả tự do cho người được tiếp nhận. Việc trả tự do được thực hiện sau khi Bộ Công an hoàn tất việc tiếp nhận người đó về Việt Nam và hoàn thành các thủ tục theo quy định của pháp luật.