Từ những nan tre, sợi mây mộc mạc của núi rừng, qua đôi bàn tay khéo léo của người Khơ Mú ở bản Na Bè, xã Tương Dương (Nghệ An), những vật dụng quen thuộc lần lượt thành hình, mang theo dấu ấn của nghề xưa được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Khi sản phẩm truyền thống tìm được đầu ra, nghề xưa không chỉ được tiếp nối mà còn trở thành sinh kế, giúp bà con có thêm thu nhập và giữ một phần hồn cốt bản làng giữa nhịp sống đổi thay.
Nghề xưa dưới mái nhà sàn
Giữa những nếp nhà sàn nép mình bên núi, Na Bè vẫn giữ nhịp sống bình dị của một bản làng Khơ Mú. Người lên nương, người lo việc nhà, người ở lại chăm cháu.
Dưới những mái hiên, tre, mây được chẻ thành từng nan, xếp gọn bên chân người thợ. Qua đôi bàn tay đã quen nghề, những vật liệu mộc mạc của núi rừng dần thành chiếc ghế, chiếc mâm, chiếc bế và nhiều vật dụng quen thuộc.
Trước hiên nhà, ông Xeo Văn Nghệ vừa trông cháu, vừa tranh thủ hoàn thiện chiếc ghế mây còn dang dở. Chẳng cần xưởng nghề hay dụng cụ cầu kỳ, một góc nhỏ trước nhà cũng đủ để ông làm việc.
Đôi tay thoăn thoắt luồn từng sợi mây qua khung ghế, kéo căng, siết chặt rồi chỉnh lại từng đường đan. Những sợi mây rời rạc cứ thế kết nối, dần tạo nên một sản phẩm chắc chắn.
Nhìn người thạo nghề làm việc, đan lát tưởng chừng đơn giản, nhưng để tạo ra sản phẩm vừa đẹp, vừa bền lại cần sự khéo léo và kinh nghiệm.
Nguyên liệu phải được lựa kỹ, nan chẻ đều, sợi mây đủ độ dẻo; khi đan, các mối nối phải chắc và khoảng cách giữa những đường nan phải cân đối. Chỉ một chút sơ suất cũng có thể khiến sản phẩm mất dáng hoặc giảm độ bền.
Cái nghề ấy không được học qua sách vở. Người Khơ Mú ở Na Bè biết đan từ việc ngồi bên ông bà, cha mẹ, quan sát rồi làm theo. Từ những lần đầu còn vụng về, đôi tay dần quen với từng nan tre, sợi mây. Kinh nghiệm cứ thế được người đi trước truyền lại cho người sau, âm thầm tồn tại qua nhiều thế hệ.

Với ông Nghệ, nghề của cha ông hôm nay còn mang lại nguồn thu thiết thực. Những ngày có nhiều thời gian, ông có thể hoàn thành khoảng hai chiếc ghế mây. Với giá bán khoảng 150 nghìn đồng mỗi chiếc, tùy số lượng sản phẩm làm ra, mỗi tháng gia đình ông có thêm khoảng 3-5 triệu đồng.
“Làm nghề này thuận lợi vì có thể tranh thủ ngay tại nhà. Vừa trông cháu, lo việc gia đình, lúc rảnh lại ngồi đan. Làm được sản phẩm nào thì có thêm thu nhập sản phẩm đó”, ông Nghệ chia sẻ.
Với những gia đình vùng cao còn dựa nhiều vào nương rẫy, vài triệu đồng mỗi tháng là khoản thu đáng kể. Không phải rời bản tìm việc, không cần đầu tư nhiều vốn, người dân có thể biến thời gian nông nhàn thành những sản phẩm có giá trị.
Từ chỗ chỉ đan để phục vụ sinh hoạt, nghề xưa dưới những mái nhà sàn Na Bè đang dần trở thành một sinh kế, giúp người Khơ Mú vừa có thêm thu nhập, vừa giữ những đường đan của cha ông không bị đứt đoạn.
Khi nghề xưa tìm được đầu ra
Không chỉ ông Xeo Văn Nghệ, dưới những mái nhà sàn ở Na Bè vẫn còn nhiều người đều đặn ngồi bên những bó tre, mây mỗi khi xong việc nương rẫy, gia đình.
Với họ, đan lát không bó buộc vào giờ giấc. Khi đôi tay rảnh việc, những đường nan lại tiếp tục nối nhau, để nghề cũ hiện diện trong nhịp sống thường ngày của bản.
Ông Ven Văn Phòng đã có 17 năm gắn bó với nghề. Chừng ấy thời gian đủ để việc lựa nguyên liệu, xử lý mây, lên khung hay tạo dáng sản phẩm trở thành những thao tác quen thuộc. Ông không dành trọn ngày cho công việc này mà thường tranh thủ những lúc ở nhà, sau khi đã lo xong việc gia đình.

Theo ông Phòng, đan lát không quá nặng nhọc nhưng cần sự kiên trì, khéo léo. Càng làm lâu, đôi tay càng thuần thục, đường đan đều hơn, sản phẩm đẹp hơn và thời gian hoàn thiện cũng được rút ngắn.
“Chúng tôi còn phải làm việc gia đình, trông cháu nên không thể ngồi đan cả ngày. Lúc nào rảnh thì tranh thủ làm. Sản phẩm hoàn thành có người đến tận nơi thu mua nên không phải mang đi bán. Mỗi tháng tôi cũng có thêm thu nhập không dưới 4 triệu đồng”, ông Phòng cho biết.
Chính việc sản phẩm làm ra có người tìm mua đang mở thêm một hướng đi cho nghề truyền thống ở Na Bè. Nếu trước kia, ghế, mâm, bế và những vật dụng từ tre, mây chủ yếu được đan để dùng trong gia đình, thì nay nhiều sản phẩm đã trở thành hàng hóa. Người mua tìm đến tận bản đặt hàng, thu gom sản phẩm, giúp bà con không phải lo nhiều về khâu tiêu thụ.
Ông Moong Thảo Thay vẫn nhớ thời nghề đan lát chỉ quanh quẩn dưới mỗi mái nhà. Ai biết nghề thì tự làm vật dụng cho gia đình, khi cần có thể làm giúp người thân, hàng xóm. Khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm thủ công tăng lên, những món đồ mộc mạc của người Khơ Mú bắt đầu được nhiều người tìm mua.
“Trước đây chúng tôi đan chủ yếu để dùng trong nhà. Bây giờ có nhiều người đặt mua, làm được đến đâu bán được đến đó. Vừa có thêm thu nhập, vừa ở nhà trông cháu, lại giữ được nghề truyền thống nên bà con rất vui”, ông Thay chia sẻ.
Từ chỗ phục vụ cuộc sống tự cung, tự cấp, những chiếc ghế, chiếc mâm được làm dưới mái nhà sàn giờ đã theo người mua ra khỏi bản. Sự thay đổi ấy không làm mất đi dáng vẻ mộc mạc của nghề xưa, nhưng lại đem đến cho nó một giá trị mới: tạo thêm thu nhập cho người làm nghề.
Khi sản phẩm có người mua, đôi tay người thợ có thêm lý do để tiếp tục gắn bó với tre, mây. Cũng từ đó, nghề đan lát ở Na Bè không chỉ được giữ bằng ký ức hay ý thức bảo tồn, mà đang được tiếp sức bằng chính giá trị mà nó mang lại trong cuộc sống hôm nay.
Để những đường đan còn nối tiếp
Theo ông Lô Văn Nghệ, Bí thư bản Na Bè, hiện bản có gần 20 người thường xuyên làm nghề đan lát. Con số chưa nhiều, song những đôi tay còn gắn bó với tre, mây vẫn đều đặn làm nghề, góp phần giữ lại một nét văn hóa đã hiện diện qua nhiều thế hệ người Khơ Mú.

Ở Na Bè, đan lát không tách khỏi nhịp sống thường ngày. Sau buổi lên nương, khi việc nhà đã vãn hay những ngày nông nhàn, người dân lại tranh thủ chẻ nan, uốn mây, hoàn thiện những sản phẩm còn dang dở.
Không cần nhiều vốn, có thể làm ngay tại nhà, nghề vì thế vừa phù hợp với cuộc sống vùng cao, vừa giúp người dân tận dụng thời gian để có thêm thu nhập.
Điều khiến những người đang giữ nghề trăn trở là làm sao để những đôi tay trẻ tiếp tục biết chẻ một nan tre, uốn một sợi mây hay hoàn thiện chiếc ghế như cha ông mình từng làm. Bởi một nghề truyền thống chỉ thực sự sống khi vẫn còn người thực hành và có thế hệ tiếp nối.
Theo Bí thư bản Na Bè, bản đang vận động người dân, nhất là lớp trẻ, học nghề từ những người có kinh nghiệm. Việc sản phẩm làm ra đang thuận lợi trong tiêu thụ cũng mở thêm cơ hội để nghề đan lát không chỉ được nhìn như một ký ức văn hóa, mà có thể trở thành sinh kế trong cuộc sống hôm nay.
“Chúng tôi mong ngày càng có nhiều người, đặc biệt là lớp trẻ, học và làm nghề. Sản phẩm hiện khá dễ tiêu thụ. Nếu duy trì tốt thì bà con vừa có thêm thu nhập, vừa góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc Khơ Mú”, ông Lô Văn Nghệ cho biết.
Đằng sau một chiếc ghế hay chiếc mâm mây vì thế không đơn thuần là một vật dụng. Trong cách chọn nguyên liệu, chẻ nan, tạo dáng hay từng mối đan còn có kinh nghiệm của những người đi trước.
Đó là thứ tri thức không nằm trên trang sách mà được truyền từ đôi tay này sang đôi tay khác, từ mái nhà này sang mái nhà khác.
Chiều muộn, dưới những mái nhà sàn Na Bè, đôi tay người thợ vẫn miệt mài với từng nan tre, sợi mây. Một chiếc ghế dần thành hình, cũng là lúc những kinh nghiệm của cha ông tiếp tục được giữ lại qua từng đường đan, mối nối.

Rồi những người thợ hôm nay sẽ già đi, nhưng nghề xưa sẽ không dừng lại nếu vẫn có những đôi tay trẻ sẵn lòng tiếp lấy. Bởi điều được trao truyền không chỉ là cách chẻ một nan tre, uốn một sợi mây hay hoàn thiện một sản phẩm, mà còn là ký ức, nếp sống và nét văn hóa đã theo người Khơ Mú qua bao thế hệ.
Ở Na Bè, những đường đan hôm nay đã nối nghề xưa với một sinh kế mới. Khi mỗi sản phẩm làm ra vừa có thể mang thêm thu nhập về dưới mái nhà sàn, vừa giữ lại dấu ấn của cha ông, nghề đan lát sẽ không chỉ nằm trong ký ức.
Nó vẫn sống trong từng đôi tay, từng nếp nhà và tiếp tục được trao lại, để mai này giữa đại ngàn, câu chuyện của người Khơ Mú vẫn còn được kể bằng những nan tre, sợi mây.