Hơn 70 năm qua, ông Nguyễn Thế Doanh vẫn nâng niu lá thư cuối cùng cha gửi từ chiến trường, trong đó có câu hỏi dành cho đứa con trai mới 3 tuổi: “Con có chóng lớn không”. Cậu bé năm ấy nay đã 76 tuổi, còn người cha cùng hai người chú vẫn chưa thể trở về.
Giữa những trang thư úa màu, cuốn nhật ký cũ và ba tờ giấy báo tử, một gia đình ở Hà Tĩnh vẫn bền bỉ đi tìm dấu tích những người thân đã nằm lại sau chiến tranh.
Trong căn nhà ở thôn Tân Thắng, xã Tứ Mỹ, tỉnh Hà Tĩnh, ông Nguyễn Thế Doanh chậm rãi mở những kỷ vật đã được gia đình gìn giữ qua nhiều thập kỷ. Giữa những giấy tờ nhuốm màu thời gian, ông cẩn thận lấy ra một lá thư cũ.
Tờ giấy đã ngả màu, nét mực không còn nguyên vẹn, nhưng từng dòng chữ vẫn được người đàn ông 76 tuổi nâng niu như báu vật.
Đó là lá thư cha ông - liệt sĩ Nguyễn Quang Triêm gửi từ chiến trường về quê ngày 26/10/1953. Khi lá thư vượt qua những chặng đường chiến tranh để về tới quê nhà, ông Doanh mới 3 tuổi, chưa thể đọc, càng chưa thể hiểu phía sau những dòng chữ ấy là nỗi nhớ quê, thương vợ, thương con của một người lính đang ở nơi chiến trận.

“Em Điu thân mến. Đã lâu lắm rồi, cách mặt khuất lời, nhớ quá…”, người lính Nguyễn Quang Triêm mở đầu lá thư gửi vợ. Trong thư không có những lời lẽ lớn lao, ông vui khi biết gia đình vẫn khỏe, hỏi chuyện quê nhà, nhắc người thân chăm lo tăng gia sản xuất và dặn vợ đừng quá lo lắng bởi mình vẫn khỏe.
Giữa những lời thăm hỏi, dặn dò ấy, người lính dành một câu ngắn ngủi cho đứa con trai bé bỏng ở quê nhà: “Con có chóng lớn không?”. Hơn 70 năm đã đi qua, câu hỏi giản dị ấy vẫn khiến ông Doanh xúc động mỗi khi đọc lại.
Ông Doanh là con trai duy nhất của liệt sĩ Nguyễn Quang Triêm. Cha nhập ngũ năm 1950, cũng là năm ông cất tiếng khóc chào đời.
Bởi vậy, những ký ức trực tiếp về cha trong ông gần như không còn. Hình hài, tính cách và những câu chuyện về người cha chủ yếu được chắp nối qua lời kể của mẹ và những người thân trong gia đình.
Theo những câu chuyện ông được nghe từ nhỏ, ông Triêm là con cả trong gia đình có 7 anh chị em. Trước khi nhập ngũ, ông tham gia du kích tại địa phương rồi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong ký ức của những người thân, ông là người cao ráo, gan dạ, văn hay, chữ đẹp và đặc biệt thích ca hát.
Trước ngày lên đường, ông Triêm từng bế đứa con trai bé bỏng trên tay và hát những bài ca về quê hương, Tổ quốc, người lính. “Chuyện ấy sau này mẹ kể lại cho tôi. Mẹ bảo lúc đó tôi còn nhỏ xíu, được cha bế trên tay. Cha rất thích hát, còn tôi cứ nghe cha hát là cười”, ông Doanh nhớ lại.
Đó cũng là một trong số ít những hình dung ấm áp còn lại về người cha mà ông gần như chưa kịp biết mặt. Sau cuộc chia tay năm 1950, bà Đinh Thị Điu ở lại quê nhà nuôi con, chờ chồng, còn những lá thư từ chiến trường trở thành sợi dây nối người lính với mái nhà nơi hậu phương.

Trong lá thư tháng 10/1953, ông Triêm vẫn gửi gắm niềm tin về một ngày trở lại. Thế nhưng, lời hẹn ấy mãi mãi không thành. Lá thư ngày 26/10 trở thành tin tức cuối cùng gia đình nhận được từ ông. Cũng trong năm 1953, người lính Nguyễn Quang Triêm hy sinh tại Vĩnh Phúc (cũ).
Người cha từng hỏi “Con có chóng lớn không?” đã không còn cơ hội nhìn thấy con trưởng thành. Cậu bé 3 tuổi năm ấy cứ thế lớn lên qua lời kể của mẹ, qua lá thư cũ và nỗi nhớ về một người cha chỉ kịp bế mình trong những năm tháng đầu đời.
Nỗi đau của gia đình không dừng lại ở sự hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Quang Triêm. Hơn một thập kỷ sau, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào những năm tháng ác liệt, hai người em trai của ông Triêm là Nguyễn Xuân Đình (SN 1944) và Nguyễn Văn Vân (SN 1946) tiếp tục lên đường vào chiến trường miền Nam.
Một người nhập ngũ tháng 4/1964, người còn lại lên đường vào tháng 11 cùng năm. Khi ấy, cả hai đều còn rất trẻ, chưa lập gia đình. Từ miền quê Hà Tĩnh, họ mang theo tuổi thanh xuân, những ước mơ còn dang dở cùng khát vọng cống hiến cho đất nước.
Trong số những kỷ vật gia đình còn lưu giữ, ông Doanh đặc biệt trân trọng cuốn nhật ký của người chú Nguyễn Xuân Đình. Cuốn sổ nhỏ đã cũ, những trang giấy ngả màu, có chỗ nét mực phai mờ theo năm tháng nhưng nét chữ và những hình vẽ của người lính trẻ vẫn còn hiện hữu.
“Cuốn sổ này chú viết rồi gửi về cho gia đình trong một lần hành quân”, ông Doanh vừa kể vừa cẩn thận lần giở từng trang. Nếu lá thư của cha giúp ông hình dung về tình yêu của một người lính dành cho vợ con thì cuốn nhật ký lại mở ra thế giới nội tâm của một chàng trai trẻ trước ngưỡng cửa chiến trường.

Ngày 30/8/1964, trong trang viết mang tiêu đề “Vào bộ đội”, Nguyễn Xuân Đình ghi lại dấu mốc rời cuộc sống quen thuộc để bước vào quân ngũ.
Anh viết về việc phải xa nông trường, xa tay cuốc, cây bút; về những bỡ ngỡ ban đầu và sự gắn bó dần hình thành trong tình đồng chí, đồng đội.
Ở một trang khác, người lính trẻ chép bài thơ “Trước giờ ra đi”, gửi gắm niềm tin sẽ vượt qua gian khó, chiến đấu và một ngày chiến thắng trở về.
Những dòng chữ ấy được viết khi phía trước người thanh niên còn cả một cuộc đời với biết bao dự định, nhưng ngày trở về mà anh từng mong đợi cuối cùng không đến.
Liệt sĩ Nguyễn Xuân Đình hy sinh năm 1967. Hai năm sau, năm 1969, người em Nguyễn Văn Vân cũng nằm lại chiến trường miền Nam. Phải đến năm 1977, gia đình mới lần lượt nhận được giấy báo tử của hai người.
Khoảng thời gian từ ngày đất nước thống nhất đến khi những tờ giấy báo tử được gửi về là những tháng ngày dài đằng đẵng đối với bà Trần Thị Sáu - mẹ của ba người lính.
Bà từng tiễn người con trai cả Nguyễn Quang Triêm lên đường rồi nhận tin con hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Hơn một thập kỷ sau, bà lại tiễn hai người con trai khác vào chiến trường chống Mỹ.
Đất nước thống nhất, tiếng súng đã lùi xa, bà Sáu vẫn hy vọng hai người con sẽ trở về. Người mẹ ấy mong một ngày trước ngõ lại xuất hiện những bóng dáng thân quen, mong những đứa con năm nào khoác ba lô rời quê sẽ bước qua cánh cửa căn nhà cũ.
Nhưng thay cho bước chân của những người con trở về là hai tờ giấy báo tử. Ba người con trai của bà đã lần lượt nằm lại trên những chiến trường khác nhau.
“Đất nước thống nhất nhưng bà lại lần lượt nhận giấy báo tử của hai chú nên đau buồn nhiều lắm. Chỉ vài tháng sau, sức khỏe suy sụp rồi bà qua đời”, ông Doanh nghẹn giọng khi nhắc lại câu chuyện của bà nội.
Sau này, bà Trần Thị Sáu được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong căn nhà của gia đình ông Doanh, dấu tích về những năm tháng ấy vẫn hiện hữu qua lá thư của người cha, cuốn nhật ký của người chú, những tờ giấy báo tử và Bằng Tổ quốc ghi công.
Hiện gia đình chỉ còn di ảnh của liệt sĩ Nguyễn Văn Vân. Riêng liệt sĩ Nguyễn Quang Triêm và liệt sĩ Nguyễn Xuân Đình không còn di ảnh để thờ. Gia đình phải lập bàn thờ vọng, lấy những kỷ vật và ký ức được truyền lại qua nhiều thế hệ làm nơi gửi gắm nỗi nhớ về những người đã khuất.
Hơn nửa thế kỷ qua, có một điều vẫn đau đáu trong lòng ông Nguyễn Thế Doanh: phần mộ của cha và hai người chú đến nay chưa được xác định.
Từ những năm 1980, khi điều kiện đi lại còn nhiều khó khăn, ông đã bắt đầu lần theo những thông tin ít ỏi trên giấy báo tử để tìm nơi cha mình từng được an táng.
Ông tìm đến địa điểm được xác định là nơi an táng ban đầu của liệt sĩ Nguyễn Quang Triêm, hỏi người dân, tìm gặp những người có thể biết thông tin rồi lần theo từng manh mối.
Theo thông tin gia đình thu thập được, khoảng năm 1967, nghĩa trang nơi liệt sĩ Triêm từng an nghỉ được di chuyển. Do phần mộ không có đầy đủ thông tin về tên tuổi, quê quán nên sau những lần quy tập, dấu tích dần thất lạc.

“Tôi đã tìm đến nơi cha được an táng ban đầu nhưng đến nay gia đình vẫn chưa xác định được cha đang nằm ở đâu”, ông Doanh nói.
Hành trình tìm kiếm hai người chú cũng chưa có kết quả. Nhiều năm qua, mỗi khi có thêm một thông tin liên quan đến đơn vị, địa bàn chiến đấu hay nơi hy sinh của người thân, gia đình lại thắp lên hy vọng rồi tiếp tục tìm kiếm, đối chiếu.
Có những chuyến đi kết thúc trước những hàng bia mộ nhưng vẫn không tìm thấy cái tên ông chờ đợi. Những lúc ấy, người con chỉ biết thắp nén hương trước đài tưởng niệm, gửi lời cầu nguyện đến cha, các chú và những người lính đã nằm lại.
Ở tuổi 76, mong ước lớn nhất của ông Doanh giờ đây chỉ là biết được cha và hai người chú đang yên nghỉ nơi đâu. Ông mong một lần được đứng trước phần mộ cha thay vì chỉ nhìn vào lá thư đã úa màu, mong người con từng được cha hỏi “có chóng lớn không” có thể tự tay thắp nén hương trên chính phần mộ của người đã sinh thành ra mình.
Gần đây, Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ tiếp tục mở thêm hy vọng cho gia đình. “Chúng tôi chỉ mong một ngày nào đó tìm được mộ của cha và các chú để gia đình được thắp nén hương, vơi đi nỗi mong nhớ đã kéo dài suốt bao năm”, ông Doanh chia sẻ.
Theo ông Trần Kim Chi, Phó Chủ tịch UBND xã Tứ Mỹ, gia đình ông Nguyễn Thế Doanh có truyền thống đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Gia đình có ba liệt sĩ nhưng đến nay vẫn chưa xác định được phần mộ của cả ba người. Những năm qua, địa phương luôn quan tâm, phối hợp với gia đình và các cơ quan liên quan để tìm kiếm, xác minh thông tin.
Địa phương cũng đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn hoàn thiện hồ sơ phục vụ giám định ADN, qua đó mở thêm cơ hội tìm kiếm, xác định danh tính và nơi an nghỉ của các liệt sĩ, đáp lại mong mỏi đã kéo dài hàng chục năm của những người thân.
Hơn bảy thập kỷ đã đi qua kể từ ngày người lính Nguyễn Quang Triêm đặt bút viết lá thư gửi về quê nhà. Cậu con trai 3 tuổi được nhắc đến trong thư nay đã bước sang tuổi 76; những người mẹ từng mòn mỏi ngóng chồng, chờ con cũng lần lượt đi xa.
Giữa những đổi thay của thời gian, lá thư đã úa màu, cuốn nhật ký và những kỷ vật cũ vẫn được gia đình nâng niu gìn giữ, như sợi dây nối ký ức của người ở lại với những người đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.
Câu hỏi “Con có chóng lớn không” năm nào đã đi qua khói lửa chiến tranh để trở về trong căn nhà nhỏ ở Hà Tĩnh. Cậu bé trong lá thư ấy đã lớn, đã đi gần trọn một đời người, nhưng hành trình tìm cha và hai người chú vẫn chưa khép lại.
Ở tuổi 76, ông Doanh vẫn mang theo niềm mong mỏi giản dị của một người con: một ngày nào đó biết được nơi cha mình và những người thân đang nằm lại.
Cuộc đoàn tụ mà gia đình chờ đợi hôm nay không còn là hình bóng những người lính bước qua cánh cửa nhà như người mẹ năm xưa từng khắc khoải mong chờ.
Sau hơn nửa thế kỷ, điều ông Doanh mong mỏi chỉ là tìm được phần mộ, xác định được tên người thân trên một tấm bia, để gia đình có một nơi đặt bó hoa, thắp nén hương và gọi hai tiếng “cha ơi”.
Với những người đã dành tuổi xuân và cả cuộc đời cho Tổ quốc, có những cuộc trở về không còn bằng bước chân. Đó là ngày họ được tìm thấy, được gọi đúng tên và được trở về trong ký ức, trong tình thân của những người đã đợi họ suốt một đời.