Việt Nam đã làm chủ thiết kế, thi công nhiều kết cấu bê tông lớn như nhà cao đến 69 tầng (≈275 m), cầu khẩu độ 350–450 m và các công trình thủy điện, công trình ngầm.
Thông tin tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và định hướng hoạt động năm 2026 của Hội Bê tông Việt Nam (VCA) chiều 13/1 ở TP.HCM, TS Lê Quang Hùng – Chủ tịch VCA cho biết, bê tông và bê tông cốt thép hiện chiếm trên 70% kết cấu chịu lực của các công trình xây dựng.
Năm 2025, sản lượng bê tông của Việt Nam ước đạt khoảng 150 triệu m³, phục vụ chủ yếu cho lĩnh vực dân dụng (45–55%), giao thông (20–30%), hạ tầng kỹ thuật và công nghiệp (mỗi lĩnh vực 10–15%), thủy lợi – thủy điện (5–10%).
Trong đó, bê tông cường độ 20–70 MPa chiếm khoảng 80%, bê tông 70–120 MPa khoảng 9%, còn bê tông trên 120 MPa, bao gồm UHPC, mới đạt khoảng 1%.

TS Lê Quang Hùng nhận định, Việt Nam đã cơ bản làm chủ thiết kế và thi công nhiều kết cấu bê tông lớn, phức tạp như nhà cao tầng đến 69 tầng (≈275 m), cầu khẩu độ 350–450 m, công trình thủy điện bê tông khối lớn và một số công trình ngầm.
Tuy nhiên, các lĩnh vực bê tông siêu tính năng (UHPC), số hóa thi công và kiểm soát độ bền lâu công trình vẫn còn hạn chế, chưa đồng đều.
Về vật liệu, Việt Nam chủ động được xi măng, cát, đá, cốt thép và phụ gia hóa học, song vẫn phụ thuộc nhập khẩu đối với một số vật liệu đặc thù như silica fume.

Trước các áp lực từ biến đổi khí hậu, đô thị hóa nhanh, đầu tư hạ tầng lớn và thiếu hụt lao động, TS Lê Quang Hùng nhận định xu hướng công nghệ bê tông toàn cầu đang chuyển theo bốn hướng: nâng cao tính năng – độ bền lâu, chuyển đổi số, bê tông xanh – bền vững và công nghiệp hóa xây dựng.
Liên quan đến giảm phát thải, các giải pháp được nhấn mạnh gồm giảm clinker trong xi măng, tăng sử dụng phụ gia khoáng và vật liệu thay thế, tái chế phế thải xây dựng, phát triển xi măng mới như LC3, tối ưu năng lượng và từng bước chuẩn bị cho công nghệ thu giữ và khoáng hóa CO₂ (CCUS).
Tại Hội nghị, TS Lê Minh Long – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) đề xuất chuyển mạnh từ hệ tiêu chuẩn bê tông dựa trên thành phần sang tiêu chuẩn theo tính năng, bổ sung các chỉ tiêu về độ bền lâu, chống xâm thực, kiểm soát nứt, thấm, nhiệt thủy hóa và phát thải trong suốt vòng đời công trình.

Hội nghị cũng ghi nhận các tham luận về cốt GFRP cho kết cấu bê tông bền lâu, xi măng – bê tông xanh, và bê tông tiền chế cho nhà công nghiệp. Trong đó, giải pháp sàn hollow core có thể mở rộng nhịp từ 6,5 × 6 m lên 8 × 10 m, giúp giảm số lượng cột và rút ngắn tiến độ thi công.
Thời gian tới, Hội Bê tông Việt Nam tiếp tục tham gia xây dựng, hoàn thiện hệ tiêu chuẩn cho bê tông mới như UHPC, bê tông xanh, đồng thời chuẩn hóa quy trình kiểm định, giám sát chất lượng cho các dự án lớn.
Đối với điện gió ngoài khơi, yêu cầu vật liệu bê tông phải đáp ứng tuổi thọ 50–100 năm theo các tiêu chuẩn quốc tế, coi đây là lĩnh vực Việt Nam cần chuẩn bị năng lực công nghệ và sản xuất một cách bài bản, dài hạn.