Tòa tuyên án

Phúc thẩm vụ cựu Hiệu trưởng THCS Ba Đình: Làm rõ căn cứ pháp lý về mức thu dạy thêm

Mạnh Hùng 11/09/2026 20:34

Trong phần tranh luận, đại diện VKS khẳng định việc xét xử bị cáo Nguyễn Thị Bình và Phạm Thị Minh Nguyệt về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” là có căn cứ, không oan.

Hiệu trưởng
Toàn cảnh phiên tòa xét xử phúc thẩm.

Cuối giờ chiều (11/9) phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình (Hà Nội) Nguyễn Thị Bình thu tiền dạy thêm tại trường trong năm học 2013 - 2014 đã khép lại phần tranh luận, các bị cáo được nói lời sau cùng trước khi phiên tòa bước vào phần nghị án.

Mong có một phán quyết anh minh

Mở đầu lời nói sau cùng, bị cáo Bình nói bản thân “đã đi qua một con đường quá dài”. Trong hành trình ấy, bị cáo nhận được sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, tổ chức, luật sư và những người tin tưởng bị cáo.

Bị cáo Bình cho rằng những tiếng nói đó cùng hướng tới công lý và lẽ phải. Bị cáo mong HĐXX xem xét toàn diện vụ án để đưa ra một phán quyết khách quan…

Cũng trong lời nói sau cùng, bị cáo Bình kể về quãng thời gian công tác trong ngành giáo dục. Ngoài công việc giáo viên, hiệu trưởng, bị cáo Bình cho biết mình từng làm Hội thẩm nhân dân của TAND quận Ba Đình, cộng tác viên thanh tra của Phòng Giáo dục và Đào tạo quận tham gia đoàn đánh giá chất lượng các nhà trường của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, viết sách và tham gia các chuyên đề giáo dục.

Bị cáo nói những năm tháng đó là niềm hạnh phúc lớn trong cuộc đời làm nghề và mong muốn sau phiên tòa được nhìn nhận lại để có thể tiếp tục cống hiến phần còn lại của cuộc đời công chức…

Khép lại phần nói sau cùng của mình, bị cáo Bình cảm ơn HĐXX, đại diện VKS, các luật sư và những người có mặt tại phiên tòa, đồng thời chờ đợi “một phán quyết anh minh, thượng tôn pháp luật”.

Cũng trong lời nói sau cùng, bị cáo Phạm Thị Minh Nguyệt, cựu Kế toán trưởng nhà trường nhắc đến Quyết định 22 - một trong những văn bản liên quan trực tiếp đến việc xác định mức thu tiền dạy thêm trong vụ án.

Theo bị cáo Nguyệt, trước đây khi quyết định này còn hiệu lực, bà đã nhận khuyết điểm. “Nay Quyết định 22 đã bị hủy bỏ vì trái pháp luật”, bị cáo Nguyệt trình bày và đề nghị tòa phúc thẩm xem xét xác định mình không vi phạm pháp luật.

Sau khi các bị cáo nói lời sau cùng, HĐXX phúc thẩm tuyên bố phiên tòa sẽ được tiếp tục vào 8h30’ ngày 14/9.

Yêu cầu cần có văn bản pháp lý về Quyết định số 22

Trước đó, trong phần luận tội và nêu quan điểm giải quyết vụ án, đại diện VKS cho rằng tại thời điểm xét xử ngày 27/3/2026, cấp sơ thẩm căn cứ Quyết định số 22 ngày 25/6/2013 của UBND TP. Hà Nội vẫn đang có hiệu lực, quy định mức thu tối đa theo sĩ số lớp học thêm để xác định số tiền nhà trường thu vượt quá là 1.093.976.000 đồng. Đây là hành vi thu sai quy định, trực tiếp dẫn đến hậu quả thiệt hại cho phụ huynh học sinh.

Về quản lý, sử dụng số tiền đã thu từ việc dạy thêm, học thêm, đại diện VKS cho rằng Tòa cấp sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ khi chỉ xác định số tiền bị cáo Bình và các cá nhân được hưởng từ khoản tiền thu vượt quá là sai phạm mà chưa xem xét cụ thể việc chi đối với số tiền 30% thu được từ việc dạy thêm, học thêm có sai phạm gì không, nếu sai thì ở mức độ nào?

Trong hồ sơ vụ án thể hiện: từ tháng 12/2013 - 5/2014, tổng số tiền 30% được trích từ nguồn thu tiền dạy thêm, học thêm là hơn 642 triệu đồng, trong đó tiền chi cho công tác quản lý là 349 triệu đồng (tương đương 54,33%, vượt quá 4,33% theo quy định).

Bị cáo Bình với tư cách là hiệu trưởng được hưởng lợi hơn 132 triệu đồng (chiếm gần 38% số tiền chi cho công tác quản lý) và một số người khác như phó hiệu trưởng, kế toán, thủ quỹ cũng được hưởng với tỷ lệ cao, trong khi tổng số tiền 24 giáo viên chủ nhiệm chỉ được nhận 26,4 triệu đồng (tương đương 7,56%). Như vậy, bị cáo Bình có dấu hiệu tư lợi cá nhân.

Mặt khác, theo quy định tại điểm e, khoản 1, Điều 12, Quyết định số 22 thì mức chi và tỷ lệ phân bổ chi phải được Hội đồng giáo dục nhà trường thông qua và được quy định cụ thể trong quy chế chi tiêu nội bộ hằng năm của đơn vị nhưng Trường THCS Ba Đình đã không thực hiện.

Bên cạnh đó, trong hồ sơ còn thể hiện việc trường THCS Ba Đình thu tiền học thêm của khối 6 nhưng chưa được cấp sơ thẩm điều tra làm rõ.

Bên cạnh đó, đại diện VKS phân tích, tại thời điểm xét xử ngày 27/3/2026, cấp sơ thẩm đã căn cứ Quyết định số 22 vẫn đang có hiệu lực, quy định mức thu tối đa theo sĩ số lớp học thêm để xác định số tiền nhà trường thu vượt quá là hơn 1 tỷ đồng.

Tuy nhiên, ngày 4/5/2026, Cục Kiểm tra văn bản và tổ chức thi hành pháp luật (Bộ Tư pháp) đã ban hành Kết luận số 01 với nội dung: Quyết định số 22 và Hướng dẫn 5898 giới hạn mức thỏa thuận giữa phụ huynh học sinh và nhà trường là chưa phù hợp với Thông tư số 17.

Tại phiên tòa ngày 10/9, đại diện của Cục Kiểm tra văn bản và tổ chức thi hành pháp luật cho rằng Quyết định số 22 là trái pháp luật. Trong khi đó, đại diện theo ủy quyền của UBND TP. Hà Nội và Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội nêu quan điểm sẽ trả lời bằng văn bản sau. Vì vậy, đại diện VKS cho rằng cần xin ý kiến bằng văn bản của cơ quan ban hành văn bản, cơ quan kiểm tra văn bản và cơ quan quản lý nhà nước về tính hợp pháp của Quyết định số 22 tại thời điểm năm 2013 - 2014.

Ngoài ra, đại diện VKS cũng cho rằng trong vụ án này, các giáo viên tại trường THCS Ba Đình là người trực tiếp thu tiền, được hưởng lợi tiền dạy thêm, học thêm và là người phải chịu trách nhiệm trong việc lập danh sách học sinh nộp tiền học thêm, thành viên Ban giám hiệu nhà trường (bà Hoàng Hạnh Tường Vân, ông Hoàng Mạnh Hà)… phải được tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ vai trò của người liên quan như đã nêu trên là thiếu sót.

Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư 17: Học sinh có nguyện vọng học thêm phải viết đơn xin học thêm gửi nhà trường; cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ có con em xin học thêm trực tiếp ký, ghi cam kết với nhà trường về dạy thêm, học thêm vào đơn xin học thêm và chịu trách nhiệm thực hiện cam kết. Tuy nhiên CQĐT chưa thu giữ được các đơn này, chưa lấy lời khai của học sinh và phụ huynh học sinh, do đó cần tiếp tục điều tra làm rõ.

Với những phân tích nêu trên, đại diện VKS khẳng định, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Bình và Phạm Thị Minh Nguyệt có dấu hiệu của tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, theo quy định tại Điều 356 - BLHS. Tuy nhiên, xét thấy cần tiếp tục điều tra làm rõ để đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật, đại diện VKS đã đề nghị HĐXX phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại vụ án.

Việc xét xử là có căn cứ, không oan

Trong phần tranh luận ngày (11/9), đại diện VKS xác định: Số tiền thu được từ hoạt động dạy thêm học thêm của Trường THCS Ba Đình (30% trong tổng số tiền thu được của phụ huynh học sinh), trường đã tách ra thành 2 hệ thống sổ sách, trong đó có 1 hệ thống để ngoài sổ sách kế toán, không chịu sự giám sát của kho bạc và tài chính quận Ba Đình (cũ).

Bên cạnh việc thu tiền không đúng quy trình, quy định, việc chi tiền của trường cũng có sai phạm.

Cụ thể, VKS nhận định, hồ sơ vụ án thể hiện việc chi cho công tác quản lý là 349,1 triệu đồng, trong đó bị cáo Bình hưởng 132,2 triệu đồng (tương đương 37,87%), 2 hiệu phó là bà Hoàng Hạnh Tường Vân và ông Hoàng Mạnh Hà cùng hưởng mức 52,5 triệu đồng (tương đương 15,04%), bị cáo Nguyệt hưởng 50 triệu đồng (tương đương 14,32%), bà Hà (thủ quỹ) hưởng 21 triệu đồng (tương đương 6,02%). Riêng 24 giáo viên chủ nhiệm được hưởng mỗi người 1.100.000 đồng, tổng là 26,4 triệu đồng (tương đương 7,56%).

Với tỷ lệ chênh lệch này, VKS khẳng định bị cáo Bình đã tư lợi cá nhân, việc xét xử bị cáo Bình và Nguyệt về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” là có căn cứ, không oan.

Thay đổi nội dung kháng cáo

Trước đó, trong các ngày từ 24 - 27/3/2026, TAND khu vực 1 - Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt bị cáo Nguyễn Thị Bình (SN 1973, ở tại phường Tây Hồ, Hà Nội - cựu Hiệu trưởng trường THCS Ba Đình) mức án 36 tháng tù và Phạm Thị Minh Nguyệt (SN 1976, ở tại phường Ngọc Hà, Hà Nội - cựu Kế toán trưởng nhà trường) mức án 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo cùng về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, theo quy định tại khoản 3, Điều 356 - BLHS.

Tuy nhiên, sau bản án sơ thẩm, cả 2 bị cáo Bình và Nguyệt đều làm đơn kháng cáo, đề nghị Tòa cấp phúc thẩm xem xét lại vụ án này. Trong đó, bị cáo Bình kháng cáo kêu oan, sau đó bị cáo bổ sung kháng cáo đề nghị Tòa cấp phúc thẩm tuyên bị cáo không phạm tội. Bị cáo Nguyệt có đơn kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt, xem xét miễn trách nhiệm hình sự; xem xét lại khoản tiền phải nộp sung công quỹ của bị cáo và buộc cán bộ, giáo viên của trường THCS Ba Đình được hưởng lợi phải nộp sung quỹ nhà nước.

Tại phiên tòa ngày 10/9, bị cáo Nguyệt thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa tuyên bị cáo không phạm tội vì Quyết định số 22/2013/QĐ/UBND của UBND TP. Hà Nội ban hành ngày 25/6/2013 (Quyết định số 22) đã bị bãi bỏ.

Theo bản án sơ thẩm, trong năm học 2013 - 2014, Trường THCS Ba Đình thực hiện tổ chức dạy thêm, học thêm trong nhà trường theo Thông tư số 17/2012/TT-BGDĐT và Quyết định số 22, Văn bản hướng dẫn số 5898/HD-SGD của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội.

Quá trình này, bị cáo Nguyễn Thị Bình với vai trò là Hiệu trưởng đã chỉ đạo kế toán Phạm Thị Minh Nguyệt và các giáo viên chủ nhiệm các khối lớp 7,8,9 thu tiền dạy thêm, học thêm theo một mức chung là 15.000 đồng/1 tiết/1 học sinh. Mức thu này cao hơn mức tối đa quy định trong Quyết định số 22. Việc thu tiền dạy thêm cao hơn mức thu tối đa quy định đã gây thiệt hại cho phụ huynh học sinh 24 lớp khối 7,8,9 trong năm học 2013 - 2014 là hơn 1 tỷ đồng.

Để hợp thức việc thu mức tiền cao hơn như đã nêu trên, bị cáo Bình đã chỉ đạo Nguyệt lập hồ sơ chứng từ, chia đôi số tiền 30% thu được từ dạy thêm do giáo viên chủ nhiệm nộp về 2 nhóm lớp. Từ đó, lập 2 hệ thống sổ sách kế toán quản lý, một hệ thống sổ sách kế toán đưa vào báo cáo tài chính, một hệ thống sổ sách kế toán để ngoài không đưa báo cáo tài chính để sử dụng chi tiêu chung cho nhà trường mà không phải chịu sự kiểm soát của cơ quan chức năng.

(0) Bình luận
Nổi bật
Phúc thẩm vụ cựu Hiệu trưởng THCS Ba Đình: Làm rõ căn cứ pháp lý về mức thu dạy thêm