Báo Công lý
Thứ Hai, 30/3/2020

Dự thảo Luật TTHC sửa đổi: Tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng tại phiên tòa

28/3/2015 08:35 UTC+7
(Công lý) - Thực tiễn xét xử cho thấy, nguyên tắc tranh tụng trong Luật Tố tụng hành chính (TTHC) hiện hành chưa mang lại hiệu quả.

Để khắc phục tình trạng nêu trên, Ban soạn thảo Dự án Luật TTHC (sửa đổi) đã đưa nhiều quy định mới vào Dự thảo Luật nhằm thể chế hóa quy định tại khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp năm 2013 về “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.

Nguyên tắc tranh tụng trong Luật TTHC hiện hành chưa mang lại hiệu quả

Tranh tụng trong TTHC là quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, Luật TTHC hiện hành chưa quy định về nguyên tắc tranh tụng mà mới chỉ tiếp cận khái niệm tranh luận qua điều luật về trình tự phát biểu khi tranh luận (Điều 158). Từ đó, dẫn đến các nội dung của nguyên tắc tranh tụng chưa được quy định đầy đủ như: Quyền được biết và trình bày ý kiến về yêu cầu, chứng cứ của người khác chưa được đảm bảo; nghĩa vụ của Tòa án chưa được quy định phù hợp trong việc bảo đảm việc thực hiện quyền tranh tụng của đương sự bình đẳng, công khai, đúng pháp luật. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, một đương sự không thể biết được về việc đương sự khác cung cấp chứng cứ hoặc Tòa án tự thu thập chứng cứ, vì Luật TTHC không quy định Tòa án có nghĩa vụ phải thông báo.

Thực tế, tranh tụng tại phiên tòa còn gặp nhiều bất cập do các nguyên nhân khách quan, chủ quan như: Cơ chế đảm bảo cho việc thực hiện tranh tụng tại phiên tòa còn nhiều vướng mắc từ việc tạo hành lang pháp lý để tạo ra cơ chế, ý thức của người tham gia tranh tụng đến những quy chế kiểm tra giám sát để đảm bảo thực hiện; ý thức pháp luật trong một bộ phận nhân dân vẫn còn hạn chế. Hiện nay, tại hầu hết các Tòa án, quá trình tố tụng vẫn diễn ra theo lối mòn đó là xét hỏi. Những quy định của Luật TTHC đã làm hạn chế vai trò của đương sự, thể hiện ở trình tự phiên tòa là xét hỏi trước rồi mới đến tranh luận; số lượng các điều luật quy định vấn đề xét hỏi nhiều hơn hẳn so với các quy định về vấn đề tranh luận. Thủ tục hỏi bắt đầu từ phía Hội đồng xét xử, khi các bên muốn hỏi phải được sự đồng ý của Hội đồng xét xử. Có vụ án, Thẩm phán chưa chủ động giải thích rõ thế nào là phát biểu ý kiến tranh luận, chưa đưa ra các vấn đề để các bên phát biểu ý kiến tranh luận. Tình trạng, Hội đồng xét xử hạn chế thời gian tranh luận của các bên đương sự, thậm chí là cả Luật sư vẫn còn xảy ra…

Dự thảo Luật TTHC sửa đổi: Tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng tại phiên tòa

TANDTC tổng kết Luật TTHC hiện hành và góp ý vào Dự án Luật TTHC (sửa đổi)

Bổ sung các quy định mới để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHC

Để khắc phục tình trạng nêu trên, Ban soạn thảo Dự án Luật TTHC (sửa đổi) đã đưa nhiều quy định mới vào Dự thảo Luật nhằm tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng tại phiên tòa. Các quy định này đã thể chế hóa quy định tại khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp năm 2013 về “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Tuy nhiên, đảm bảo nguyên tắc tranh tụng không đồng nhất với việc thay thế hoàn toàn mô hình xét hỏi sang mô hình tranh tụng mà tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong Dự thảo Luật TTHC (sửa đổi) thì nguyên tắc tranh tụng được thể hiện ngay từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc xét xử. Dự thảo Luật xác định rõ trách nhiệm chứng minh thuộc về đương sự (bao gồm người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), Tòa án chỉ có nghĩa vụ xác minh thu thập chứng cứ và xét hỏi khi cần thiết.

Việc quy định về quyền, nghĩa vụ, thủ tục cung cấp chứng cứ, chứng minh của đương sự là nội dung được quy định chặt chẽ. Thời hạn giao nộp chứng cứ của đương sự do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng phải trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử ở cấp sơ thẩm, trừ trường hợp có trở ngại khách quan mà không thể giao nộp chứng cứ đúng thời hạn. Chứng cứ do đương sự giao nộp phải được đương sự chụp, sao thành nhiều bản (số lượng bản tương đương với số lượng các đương sự trong vụ án và VKSND cùng cấp). Khi nhận được chứng cứ từ đương sự, Tòa án thông báo cho phía bên kia biết chứng cứ do đương sự nộp. Nếu phía bên kia yêu cầu được chuyển giao chứng cứ thì yêu cầu các bên giao nhận cho nhau, việc giao nhận phải lập thành văn bản. Việc chuyển chứng cứ cũng có thể do Tòa án chuyển bản sao, bản chụp các chứng cứ cho phía bên kia, kèm theo yêu cầu đương sự đưa ra ý kiến về việc chấp nhận hay không chấp nhận chứng cứ đó; đồng thời gửi bản sao tài liệu này đến VKSND tham gia phiên tòa hoặc có yêu cầu. Thẩm phán quy định thời hạn nhất định để yêu cầu đương sự phải có ý kiến bằng văn bản đối với chứng cứ do bên kia nộp. Trường hợp đương sự không có ý kiến thì được xem như đã chấp nhận chứng cứ do phía bên kia cung cấp. Trong trường hợp cần phải thẩm tra lại chứng cứ mà đương sự cung cấp thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa.

Dự thảo Luật TTHC (sửa đổi) bổ sung thêm quy định: Phiên họp xem xét chứng cứ để đảm bảo việc thụ lý vụ việc được công khai, minh bạch, đúng pháp luật, các bên được trình bày, được biết chứng cứ của nhau cũng như đảm bảo tính có căn cứ, sự tồn tại của quyền, lợi ích cần được bảo vệ. Phiên họp công khai sẽ công bố các chứng cứ và xem xét các chứng cứ các bên đưa và cung cấp cho Tòa án.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa, Dự thảo Luật cũng thể hiện theo hướng phiên tòa không diễn ra như hiện nay. Vai trò của Tòa án chủ yếu là điều hành phiên tòa; hai bên trình bày tranh luận và đưa ra chứng cứ. Thẩm phán chỉ hỏi ở mức độ rất hạn chế để làm rõ những vấn đề chưa rõ. Kết quả tranh tụng tại Tòa là căn cứ để Hội đồng xét xử đưa ra các phán quyết.

Trần Quang Huy

ý kiến của bạn

Tổng số bình luận: (1)
  • Nguyễn Hòang Hải
    Tòa hành chính Đức có thể ra quyết định không cần mở phiên tòa nếu điều kiện cho phép và các bên đồng ý Tòa quyết định trên cơ sở văn bản, công văn của 2 bên: chính quyền và người dân. Riêng phiên Tòa nếu mở ra thì Điều 68 Luật tố tụng hành chính „Diễn biến phiên tòa trực tiếp“ quy định: (tạm dịch) „(1) Phiên tòa hành chính không xử công khai... (2) Người phụ trách xử nêu sự việc với các bên. Người đó phải tác động làm sao, để những đề nghị, đơn từ chưa rõ ràng được giải thích, các đề nghị phục vụ cho việc làm sáng tỏ vụ việc được đưa ra, những dữ liệu chưa đầy đủ được bổ sung cũng như mọi ý kiến, tuyên bố cơ bản cho việc xác định sự việc được đưa ra …“ Tóm lại Luật tố tụng hành chính Đức cũng không quá đi sâu vào việc thẩm phán cần cư xử thế nào, nên cho mọi người tranh tụng hay không, mà theo tôi hiểu người thẩm phán hay Hội đồng xét xử có quyền hạn lớn như ban hành 1 bản án, và trong diễn biến phiên tòa có tòan quyền giữ gìn trật tự v.v. Tuy nhiên để có công lý thì Tòa án trước hết phải bình đẳng với những người tham dự phiên tòa, như ở đây là người dân và chính quyền (Nguyên tắc hiến định: mọi người đều bình đẳng trước pháp luật – Đ 16 khỏan 1), và nếu để tìm ra chân lý cần có ý kiến của các bên thì thẩm phán chỉ có thể đảm bảo cho các bên đưa ra hết ý kiến (đại lọai như Đ. 68 của Luật Đức) thì lúc đó Hội đồng xét xử hay thẩm phán mới có cơ sở ra quyết định chính xác.
    Thích1 Trả lời
Sự kiện nổi bật