Tại Đại hội XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định mục tiêu cao nhất của Đảng là vì nhân dân và sự trường tồn của dân tộc. Đây là sự kế thừa sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh từ mốc son Pác Bó (1941), xuyên suốt 85 năm cách mạng và gần 40 năm đổi mới, nhằm đưa Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển và hội nhập.
Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã xác lập con đường cách mạng Việt Nam là con đường giải phóng dân tộc gắn liền với xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là lựa chọn mang tính lý luận, mà là sự kết tinh khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam về độc lập, tự do và hạnh phúc, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại. Cương lĩnh do Người khởi thảo năm 1930 trở thành nền tảng tư tưởng, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.

Dưới ánh sáng của Cương lĩnh và tư tưởng Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành thắng lợi vĩ đại, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định dứt khoát quyền sống, quyền tự do của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới. Đó không chỉ là lời tuyên bố chính trị, mà là sự khẳng định giá trị phổ quát của độc lập dân tộc gắn với quyền con người.
Tư tưởng ấy tiếp tục soi đường cho dân tộc Việt Nam đi qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại của thế kỷ XX. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), đường lối toàn dân, toàn diện, trường kỳ đã phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975), tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trở thành mệnh lệnh của lịch sử, kết tinh thành Đại thắng mùa Xuân năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trong hòa bình.
Nhìn lại chặng đường ấy cho thấy: từ Cương lĩnh 1930 đến thống nhất đất nước, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi quyết sách chiến lược của Đảng.
Đến mùa Xuân năm 1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Pác Bó không chỉ để “về nước”, mà quan trọng hơn, để trực tiếp đặt tư tưởng cách mạng của mình vào thực tiễn sinh động của đất nước. Tại đây, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của nhân dân không còn là lý luận được hình thành từ khảo nghiệm quốc tế, mà trở thành đường lối hành động cụ thể, phù hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam.
Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) do Người chủ trì đã xác định rõ: giải phóng dân tộc là nhiệm vụ tối cao, trước hết và trên hết. Quyết sách này thể hiện một bước phát triển mang tính bản chất trong tư duy cách mạng Việt Nam: mọi mục tiêu, mọi lực lượng, mọi hình thức đấu tranh đều quy tụ về lợi ích căn bản của dân tộc và nhân dân. Việc thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp yêu nước, đã hiện thực hóa quan điểm “lấy dân làm gốc”, coi nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử.
Từ Pác Bó, tư tưởng “vì độc lập dân tộc, vì tự do của nhân dân” trở thành trục xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng, tạo nền tảng cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây là giai đoạn chứng minh tư tưởng xuyên suốt “ Độc lập dân tộc gắn với xây dựng chủ nghĩa xã hội” trong hành trình 85 năm cách mạng Việt Nam sau đó.
Khát vọng xây dựng Việt Nam hùng cường
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là minh chứng hùng hồn cho một chân lý có giá trị vượt thời đại: khi mục tiêu cách mạng xuất phát từ lợi ích căn bản của nhân dân, khi Đảng biết dựa vào dân, khơi dậy và tổ chức sức mạnh của nhân dân, thì dân tộc dù trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất cũng có thể làm nên những kỳ tích lịch sử. Đó không chỉ là thắng lợi của một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, mà là sự trỗi dậy của quyền làm chủ của nhân dân Việt Nam sau hàng thế kỷ bị áp bức, nô dịch.
Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng tư tưởng cho Nhà nước Việt Nam mới bằng một cách tiếp cận đặc biệt sâu sắc về quyền con người và quyền dân tộc. Người trích dẫn những giá trị phổ quát của nhân loại: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, đồng thời khẳng định một chân lý mang bản sắc Việt Nam: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay… dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”
Sự kết hợp chặt chẽ giữa quyền con người và quyền dân tộc độc lập trong Tuyên ngôn không chỉ thể hiện tầm vóc tư duy của Hồ Chí Minh, mà còn khẳng định rõ ràng: ở Việt Nam, quyền con người chỉ có thể được bảo đảm đầy đủ khi dân tộc có độc lập, nhân dân thực sự làm chủ vận mệnh của mình. Đây chính là nền tảng tư tưởng xuyên suốt để Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, và tiếp tục được kế thừa, phát triển trong các giai đoạn cách mạng sau này.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tư tưởng “vì nhân dân” tiếp tục được khẳng định bằng thực tiễn. Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ không chỉ là lựa chọn quân sự – chính trị đúng đắn, mà còn là sự khẳng định vai trò trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Lời hiệu triệu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành mệnh lệnh từ trái tim, kết tinh ý chí của cả dân tộc.
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 khép lại hành trình đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, đồng thời mở ra yêu cầu mới: xây dựng một xã hội mà thành quả cách mạng thực sự thuộc về nhân dân. Đây là bước chuyển mang tính tất yếu của hành trình Hồ Chí Minh - từ giành chính quyền đến xây dựng và phát triển đất nước.
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhận định: “Điểm đặc sắc nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua Cách mạng Tháng Tám và suốt hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc là việc đặt nhân dân vào vị trí trung tâm của mọi quyết sách chiến lược. Độc lập dân tộc không phải mục tiêu trừu tượng, mà là điều kiện tiên quyết để nhân dân được làm chủ, được hưởng quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Chính sự thống nhất giữa mục tiêu dân tộc và lợi ích nhân dân ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam, làm nên những thắng lợi tưởng chừng không thể”.

Mới đây, trong bài viết của đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, với tiêu đề: "Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!" có nêu: "Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa kết thúc rất thành công là sự kiện chính trị đặc biệt trọng đại, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới cho đất nước. Đại hội là sự tập trung cao độ ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, kết tinh trí tuệ và khát vọng vươn lên của dân tộc. Phương châm của Đại hội: “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển” không chỉ là khẩu hiệu, mà thực sự là lời hiệu triệu, là mệnh lệnh của trách nhiệm trước lịch sử, khẳng định niềm tin tất thắng vào con đường Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn".
Quan trọng hơn, Văn kiện Đại hội XIV đã cụ thể hóa ngay tinh thần hành động quyết liệt. Trong đó nhấn mạnh "Tư tưởng “Dân là gốc” được quán triệt xuyên suốt: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc phát triển, mọi chính sách đều hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; đồng thời đề cao việc tôn trọng, lắng nghe và phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân. Nhờ thế, Nghị quyết Đại hội XIV không dừng ở tầm nhìn và định hướng, mà đã mang trong mình hơi thở của cuộc sống, khơi dậy khát vọng phát triển và động lực hành động mạnh mẽ, sẵn sàng đi vào thực tiễn ngay sau Đại hội".
Vì Nhân dân là mục tiêu trong kỷ nguyên phát triển mới
Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất năm 1975, cách mạng Việt Nam bước vào một chặng đường lịch sử mới: lần đầu tiên dân tộc ta có điều kiện thuận lợi để thực hiện trọn vẹn khát vọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng đau đáu, xây dựng một nước Việt Nam “độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh”. Tuy nhiên, thực tiễn hậu chiến đầy khó khăn, cộng với những biến động sâu sắc của tình hình thế giới, đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới tư duy phát triển, đổi mới phương thức lãnh đạo và mô hình tổ chức nền kinh tế - xã hội.
Qua 40 năm đổi mới (1986-2026) là chặng đường Đảng ta kiên trì hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện hòa bình, xây dựng và hội nhập. Từ một nền kinh tế bao cấp, khép kín, Việt Nam đã từng bước vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao. Việt Nam là một trong những quốc gia được Liên Hợp Quốc và bạn bè quốc tế đánh giá cao về sự tiến bộ thực hiện các vấn đề về quyền con người như xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, tham gia nhiệm vụ quốc tế vì quyền con người… Thực tiễn ấy khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.”

Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó lường, Đại hội Đảng XIV đặt ra yêu cầu phát triển mới với tầm nhìn chiến lược dài hạn. Phát biểu tại Đại hội, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Mọi chủ trương, đường lối của Đảng đều nhằm mục tiêu cao nhất là vì nhân dân, vì sự trường tồn của dân tộc.” Đây là sự khẳng định nhất quán nguyên tắc nền tảng của Đảng, đồng thời thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo trước những thách thức của thời đại toàn cầu hóa và chuyển đổi số.
Văn kiện Đại hội XIV mới đây đã tiếp tục làm rõ quan điểm lấy con người làm trung tâm của phát triển, coi nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân là thước đo quan trọng nhất của mọi chính sách. Khác với các giai đoạn trước, yêu cầu “vì nhân dân” trong giai đoạn hiện nay không chỉ dừng lại ở tăng trưởng kinh tế, mà còn bao hàm phát triển bền vững, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.
Điểm mới của Đại hội XIV là sự kết hợp chặt chẽ giữa kiên định mục tiêu chiến lược và đổi mới phương thức phát triển. Văn kiện Đại hội khẳng định phải “phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, lấy sự hài lòng của nhân dân làm tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị”. Đây chính là sự kế thừa trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân, đồng thời là lời cảnh tỉnh đối với mọi biểu hiện xa dân, quan liêu, hình thức.
Tại bài viết đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm mới đây có nêu "Đại hội XIV đã thắp lên ngọn lửa niềm tin tất thắng, đặt lên vai toàn Đảng, toàn dân ta một trọng trách lịch sử vô cùng nặng nề nhưng cũng rất đỗi vẻ vang. Trước mắt là rất nhiều khó khăn, thách thức, song Đảng ta không cho phép bất cứ sự chùn bước hay thất bại nào trên con đường đã chọn. Cùng với Đảng là niềm tin yêu và kỳ vọng của hơn 100 triệu đồng bào, và trước mắt chúng ta là vận mệnh của cả dân tộc trong thế kỷ 21. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” .
Có thể thấy, từ Pác Bó năm 1941 đến Đại hội XIV, hành trình Hồ Chí Minh không ngừng được bổ sung, phát triển bằng thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trong kỷ nguyên phát triển và hội nhập sâu rộng, tư tưởng “vì nhân dân, vì dân tộc” tiếp tục là điểm tựa tư tưởng, là nguyên tắc bất biến để Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua thách thức, nắm bắt thời cơ, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc và trường tồn.