Những ngày đầu năm 2026, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hân hoan chào mừng Đại hội XIV của Đảng. Niềm vui càng được nhân lên khi đất nước kỷ niệm 85 năm Ngày Bác Hồ về nước (28/1/1941 - 28/1/2026).
Tại Pác Bó, Cao Bằng, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Kỷ niệm sự kiện trọng đại này, Báo Công lý trân trọng giới thiệu tuyến bài viết “Hành trình Hồ Chí Minh - từ khát vọng độc lập dân tộc đến xây dựng Việt Nam hùng cường”.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, nhưng hành trình ra đi tìm đường cứu nước của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành là một trong những trang sử xúc động và vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam. Ngày 5/6/1911, Người từ Bến Nhà Rồng, Sài Gòn- TP Hồ Chí Minh ra đi tới nhiều quốc gia, châu lục. Và đến mùa xuân ngày 28/1/1941, Người trở về Tổ quốc tại cột mốc 108, xóm Pác Bó, xã Trường Hà (Cao Bằng). Đó là cuộc hành trình chuẩn bị vĩ đại cho lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam giành độc lập, tự do, mở ra thời đại mới- thời đại Hồ Chí Minh.
Từ miền quê xứ Nghệ đến Bến cảng Nhà Rồng
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước Việt Nam chìm trong ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Độc lập dân tộc bị tước đoạt, quyền sống và nhân phẩm của nhân dân bị chà đạp. Các phong trào yêu nước liên tiếp bùng nổ, từ Cần Vương đến Đông Du, Duy Tân…, thể hiện tinh thần quật khởi, ý chí không khuất phục của dân tộc Việt Nam nhưng lần lượt thất bại do thiếu một đường lối đúng đắn và một lực lượng lãnh đạo đủ bản lĩnh. Lịch sử đặt ra một câu hỏi mang tính sống còn và cấp bách: Dân tộc Việt Nam phải đi con đường nào để giành lại độc lập, tự do?

Người thanh niên Nguyễn Tất Thành lớn lên từ chính nỗi đau ấy của đất nước. Người sinh ngày 19/5/1890 tại làng Kim Liên (Nam Đàn, Nghệ An) trong một gia đình nhà nho yêu nước, thân phụ là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, nhà nho có tư tưởng tiến bộ, thương dân, ghét cường quyền.
Nghệ An là vùng quê giàu truyền thống yêu nước, hiếu học và kiên cường. Vì vậy, Nguyễn Tất Thành từ thuở thiếu thời đã sớm được hun đúc tinh thần yêu nước, lòng thương dân và ý thức sâu sắc về lẽ công bằng. Những năm tháng theo cha đi nhiều địa phương, tận mắt chứng kiến cảnh nước mất, người dân sống thân phận nô lệ, lầm than dưới ách áp bức của thực dân, phong kiến, đã khắc sâu trong Người nỗi đau đáu thường trực về vận mệnh dân tộc.

Không chỉ được nuôi dưỡng bởi truyền thống gia đình và quê hương, Nguyễn Tất Thành khi lớn lên ra kinh thành Huế học tập còn sớm tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ của thời đại. Qua học tập, tự học và quan sát thực tiễn xã hội, Người tìm hiểu các giá trị “tự do, bình đẳng, bác ái” của Cách mạng Pháp, đồng thời nhận ra sự đối lập gay gắt giữa những khẩu hiệu nhân văn ấy với chính sách áp bức, bóc lột mà thực dân Pháp đang áp đặt lên nhân dân Việt Nam.
Từ thực tiễn ấy, trong Nguyễn Tất Thành ngày càng hình thành nhận thức rõ ràng rằng: muốn có tự do thật sự, dân tộc Việt Nam không thể trông chờ vào sự ban phát, mà phải tự mình giành lấy độc lập.
Chứng kiến sự bế tắc của các con đường cứu nước đương thời, Nguyễn Tất Thành không đi theo lối mòn của các bậc tiền bối, cũng không đặt niềm tin vào cải lương hay cầu viện bên ngoài. Người lựa chọn một con đường khó khăn nhưng căn bản hơn: đi ra thế giới để tìm một con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc mình. Quyết tâm ấy bắt nguồn từ khát vọng cháy bỏng của Người: "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi. Đó là những gì tôi hiểu. Đó là những điều tôi muốn".

Ngày 5/6/1911, từ Bến Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lên con tàu Amiral Latouche-Tréville, bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước kéo dài suốt ba mươi năm. Sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói giản dị mà sâu sắc: “Tôi muốn đi ra ngoài xem nước Pháp và các nước khác họ làm như thế nào, rồi trở về giúp đồng bào chúng ta” (Hồ Chí Minh Toàn tập).
Khắc họa giây phút xúc động đó, nhà thơ Chế Lan Viên trong bài thơ "Người đi tìm hình của nước" có viết:
Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm con sóng dưới thân tàu đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không bóng một hàng tre...
Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương....
Từ đây, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc trên con tàu Amiral Latouche Tréville, mở đầu hành trình 30 năm bôn ba tìm con đường giải phóng dân tộc. Không cờ hoa, không người thân đưa tiễn, chỉ có một ý chí lớn hơn nỗi sợ và một khát vọng cháy bỏng: "Tự do cho đồng bào tôi. Độc lập cho Tổ quốc tôi. Đó là những gì tôi hiểu. Đó là những gì tôi muốn".
Hơn một thế kỷ trôi qua, những người trẻ như chúng tôi hiểu rằng có những chuyến đi không chỉ thay đổi số phận một con người, mà còn làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc.
Ba châu lục với một mục tiêu nhất quán: Giải phóng dân tộc
Hành trình ba mươi năm bôn ba qua nhiều châu lục, trải qua muôn vàn gian nan, hiểm nguy đã giúp người thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc có cái nhìn sâu sắc về thế giới tư bản và bản chất của chủ nghĩa thực dân.
Từ châu Phi, châu Mỹ đến châu Âu, Người tận mắt chứng kiến cảnh người lao động bị áp bức, bóc lột tàn nhẫn và nhận ra rằng: nỗi đau của dân tộc Việt Nam không phải là cá biệt, mà là thân phận chung của các dân tộc thuộc địa.

Sự kiện có ý nghĩa quyết định, làm chuyển biến căn bản nhận thức về con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, diễn ra vào các ngày 16 và 17/7/1920. Qua báo Nhân đạo (L’Humanité) của Pháp, Người được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin. Ánh sáng của Luận cương đã mở ra trước mắt Nguyễn Ái Quốc một chân trời mới, chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa.
Sau này, Người xúc động kể lại: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: ‘Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta’” (Hồ Chí Minh Toàn tập).
Chính từ thực tiễn ấy, Nguyễn Ái Quốc sớm vạch trần bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Tại Paris, thủ đô nước Pháp, Hội Liên hiệp thuộc địa xuất bản báo Le Paria (Người cùng khổ) (1/4/1922- 4/1926), là cơ quan ngôn luận, là diễn đàn của nhân dân các thuộc địa.
Nguyễn Ái Quốc là chủ nhiệm, kiêm chủ bút, Người đã viết nhiều bài báo vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… đối với nhân dân Việt Nam, nhân dân Đông Dương và các thuộc địa khác.
Từ đó, giúp người đọc nhận thức rõ hơn về sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân nói chung và thực dân Pháp nói riêng; về mâu thuẫn không thể điều hoà giữa chủ nghĩa thực dân với nhân dân lao động tại các thuộc địa; về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và chính quốc…
Từ bước ngoặt lịch sử ấy, Nguyễn Ái Quốc đi đến kết luận mang tính thời đại: chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức, mở ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.
Sau khi xác định con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc từng bước trưởng thành toàn diện cả về tư tưởng, tổ chức và phương pháp hoạt động cách mạng.
Tháng 12/1920, tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp, Người bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản, trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển quyết định: từ người yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản, gắn sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam với phong trào cách mạng vô sản thế giới.

Từ năm 1923 - 1924, hoạt động tại Liên Xô, trung tâm của phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế Nông dân và nhiều hội nghị quan trọng khác (17/6-8/7/1924 tại Mátxcơva, Liên Xô).
Qua thực tiễn hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, Người không chỉ tiếp thu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê nin, mà còn từng bước hình thành tư duy chiến lược về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, khẳng định vai trò đặc biệt của quần chúng nhân dân và vấn đề xây dựng Đảng kiểu mới.

Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam, chuẩn bị lực lượng nòng cốt cho phong trào trong nước. Năm 1927, tác phẩm “Đường Kách mệnh” ra đời, trở thành văn kiện lý luận cách mạng đầu tiên của Việt Nam, đặt nền móng cho tư tưởng về xây dựng Đảng và con đường cách mạng đúng đắn. Trong tác phẩm này, Người khẳng định một cách nhất quán: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh… Đảng có vững thì cách mệnh mới thành công” (Hồ Chí Minh Toàn tập).

Đỉnh cao của quá trình chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức là Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, diễn ra đầu tháng 2/1930 tại Hồng Kông, dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 3/2/1930 và sau đó Người khởi thảo chính cương sách lược đầu tiên. Đây là bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối cứu nước, mở ra con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng.
Bước sang cuối thập niên 1930, trước những biến động to lớn của tình hình thế giới và trong nước, đặc biệt là sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai, Nguyễn Ái Quốc nhận định thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần.
Từ Liên Xô rồi sang Trung Quốc, Người theo dõi sát sao phong trào trong nước, chỉ đạo xây dựng lực lượng, đào tạo cán bộ, chuẩn bị căn cứ địa cách mạng. Việc trở về Tổ quốc không phải là quyết định nhất thời, mà là kết quả của sự chuẩn bị chiến lược lâu dài, chặt chẽ, khi các điều kiện chính trị, tổ chức và quần chúng đã từng bước chín muồi.

Xuất phát từ quan điểm nhất quán coi nhân dân là chủ thể của cách mạng, Nguyễn Ái Quốc luôn khẳng định: “Cách mệnh là sự nghiệp của quần chúng” (Hồ Chí Minh Toàn tập). Chính vì vậy, trước ngày trở về, Người đã chuẩn bị kỹ lưỡng lực lượng cách mạng trong lòng dân - yếu tố quyết định mọi thắng lợi, tạo tiền đề trực tiếp cho sự kiện lịch sử ngày 28/1/1941, khi Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
PGS.TS Bùi Đình Phong, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Ba mươi năm Nguyễn Ái Quốc hoạt động cách mạng ở nước ngoài là hành trình khảo nghiệm thực tiễn sâu sắc con đường giải phóng dân tộc, từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời là quá trình hình thành tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Đó cũng là sự chuẩn bị bền bỉ, toàn diện về tổ chức, lực lượng và phương pháp cách mạng. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 là kết quả tất yếu của quá trình ấy; còn việc Nguyễn Ái Quốc chọn Cao Bằng làm nơi trở về năm 1941 đã hoàn tất khâu chuẩn bị cuối cùng, đưa cách mạng Việt Nam từ chuẩn bị sang hành động quyết định.