85 năm trước, ngày 28/01/1941, sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã bước qua mốc 108 Pác Bó, Cao Bằng trở về Tổ quốc mở ra giai đoạn đấu tranh cách mạng mới làm thay đổi vận mệnh dân tộc.
Từ tháng 6/1940, Pháp dần suy yếu, điều này tạo điều kiện để Nhật nhảy vào Đông Dương thiết lập một trật tự thống trị mới. Nhân dân Việt Nam bị dồn vào cảnh “một cổ hai tròng”, vừa chịu sự áp bức của thực dân Pháp, vừa sống dưới gót giày xâm lược của phát xít Nhật.
Trong bối cảnh ấy, phong trào cách mạng trong nước đứng trước yêu cầu sống còn: phải xác định đúng kẻ thù trước mắt và lựa chọn con đường đấu tranh phù hợp với tình thế mới. Tháng 11/1940, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ VII, xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật - Pháp và bè lũ tay sai, đồng thời đề ra nhiệm vụ trung tâm: khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Ở bên kia biên giới, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc theo dõi sát sao từng biến động của tình hình thế giới và trong nước. Cuối năm 1940, Người có mặt tại Quế Lâm (Trung Quốc), trực tiếp chỉ thị cho toàn bộ cán bộ, đảng viên của Đảng đang hoạt động ở nước ngoài nhanh chóng trở về nước, gấp rút chuẩn bị lực lượng đón thời cơ lịch sử đang đến gần.
Trong các năm 1938–1940, Bác Hồ lấy bí danh là Hồ Quang, trong khoảng thời gian hoạt động Quế Lâm người đã lui tới khoảng 4 lần. Văn phòng Bát Lộ Quân tại Quế Lâm trở thành trung tâm kết nối giữa Nguyễn Ái Quốc và các chiến khu Trung Quốc, cũng như phong trào cách mạng Việt Nam. Tại đây, Người viết báo, đánh chữ, nghiên cứu tài liệu chuyển về nước.
Thông qua mối quan hệ nội bộ trong văn phòng Bát Lộ Quân, Hồ Quang cử đồng chí Phạm Văn Đồng gặp gỡ một số nhà văn tiến bộ Trung Quốc, tiếp xúc với đông đảo giới văn hoá, giới báo chí ở Quế Lâm.
Năm 1940, cao trào chống đế quốc Nhật, thực dân Pháp xâm lược không ngừng phát triển ở Việt Nam. Vùng gần biên giới Trung Quốc, nhân dân Việt Nam rầm rộ khởi nghĩa. Nguyễn Ái Quốc chủ trương đoàn kết các dân tộc để đấu tranh, nhằm giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do. Ở Quế Lâm, Người đã nỗ lực không mệt mỏi vì công việc.

Nhận được tin này, Nguyễn Ái Quốc đang ở văn phòng Bát Lộ Quân đã bí mật cử Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh và Cao Hồng Lĩnh đi Tĩnh Tây để liên lạc với nhóm thanh niên ấy. Đồng thời tìm cách khuyên Trương Bội Công gửi điện đến Quế Lâm mời đại diện của Việt Minh về Tĩnh Tây để bàn bạc, thương lượng.
Ngày 16/12/1940, Việt Minh họp với giới văn hoá, báo chí tại tiệm trà Đông Pha. Trong cuộc họp đó, Dương Hoài Nam (tức Võ Nguyên Giáp) báo cáo về tình hình các đảng phái của Việt Nam. Ngày hôm sau, trang hai của Cứu vong Nhật báo đã tường thuật tỉ mỉ về cuộc họp đó.
Trong hành trình về nguồn theo dấu chân Người, chúng tôi đến Tịnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc) – mảnh đất in đậm dấu ấn hoạt động của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều nhà cách mạng tiền bối. Giữa những khu phố nhỏ, các di tích cách mạng vẫn hiện hữu như chứng nhân cho một thời kỳ hoạt động, hội họp và huấn luyện đầy gian khổ. Chính quyền và nhân dân Tịnh Tây luôn tự hào gìn giữ vẹn nguyên những kỷ vật về Bác trong giai đoạn lịch sử then chốt, khi Người hoạch định chiến lược để trở về Tổ quốc.

Gia đình ông Hứa Gia Khởi ở thôn Nặm Quang (Tịnh Tây, Quảng Tây) không chỉ sẵn lòng nhường nhà làm cơ sở cách mạng mà còn cùng bà con nơi đây hết lòng che chở, bảo vệ cán bộ ta. Tháng 1/1941, chính tại địa điểm này, Bác đã tổ chức lớp huấn luyện đặc biệt cho 43 cán bộ nguồn để chuẩn bị về nước gây dựng cơ sở. Sát cánh cùng Bác lúc bấy giờ là các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Bác trực tiếp đứng lớp và biên soạn tài liệu giáo khoa, tiền thân của cuốn sách "Con đường giải phóng" sau này.
Ông Võ Hồng Nam (con trai Đại tướng Võ Nguyên Giáp) không giấu được xúc động khi lần đầu cùng con trai trở lại điểm di tích, đặc biệt là lớp huấn luyện cán bộ Hồ Chí Minh – ngôi nhà sàn của ông Hứa Gia Khởi, nơi vẫn được gìn giữ gần như nguyên vẹn những dấu tích xưa.
Anh Võ Hoài Nam (cháu trai của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) chia sẻ: Khi thăm lại những địa điểm gắn liền với Bác Hồ, ông nội và các cán bộ cách mạng từng sống, làm việc, được bà con nơi đây chở che trong những tháng ngày gian khổ, thiếu thốn, anh càng cảm nhận rõ hơn lý tưởng mà Bác đã lựa chọn; hiểu sâu sắc hơn về quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bậc lãnh đạo tiền bối của dân tộc; đồng thời thấu hiểu vì sao Người luôn nhấn mạnh sức mạnh của tinh thần đoàn kết và tình hữu nghị giữa các dân tộc.
Hành trình này như một lời nhắc nhở mỗi chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, không chỉ mang trong mình niềm tự hào dân tộc mà còn ý thức rõ trách nhiệm gìn giữ hòa bình, tiếp nối và vun đắp tình hữu nghị giữa hai đất nước.

Việc lựa chọn Cao Bằng làm nơi trở về thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc. Ngay từ Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII (năm 1935), thông qua các cuộc tiếp xúc và làm việc trực tiếp với những cán bộ Cao Bằng tham dự Đại hội, Nguyễn Ái Quốc đã có điều kiện đánh giá toàn diện năng lực, bản lĩnh chính trị cũng như uy tín của đội ngũ cán bộ xuất thân từ vùng đất biên cương này.
Song song với đó, hệ thống tổ chức Đảng ở hải ngoại, đặc biệt là Chi bộ Long Châu (Trung Quốc) – nơi các cán bộ Cao Bằng giữ vai trò nòng cốt – tiếp tục khẳng định vị thế là điểm tựa tin cậy của phong trào cách mạng trong nước. Đến cuối năm 1940, tại Tịnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc) đã có khoảng 40 cán bộ, đảng viên của Đảng đang hoạt động, trong đó có nhiều cán bộ đến từ Cao Bằng.
Trên cơ sở những đánh giá đã được cân nhắc chín muồi, Nguyễn Ái Quốc cử cán bộ về nước để bắt liên lạc, nắm chắc tình hình phong trào, đặc biệt là phong trào cách mạng ở Cao Bằng – nơi đã được chuẩn bị công phu suốt hàng chục năm bằng những “hạt giống đỏ” trung kiên, sẵn sàng trở thành điểm tựa cho bước ngoặt chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Ông Đinh Ngọc Viện, nguyên Trưởng phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo – Dân vận Tỉnh ủy Cao Bằng, người có nhiều năm nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Cao Bằng, cho rằng: “Việc Nguyễn Ái Quốc lựa chọn Cao Bằng làm nơi trở về không chỉ xuất phát từ tình hình trong nước lúc bấy giờ, mà là kết quả của một quá trình quan sát, đánh giá lâu dài.
Từ những mối liên hệ được hình thành tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, đến vai trò của Chi bộ Long Châu và lực lượng cán bộ Cao Bằng đang hoạt động tại Tịnh Tây, tất cả đã tạo nên cơ sở tin cậy để Người đưa ra một quyết định chiến lược mang ý nghĩa lịch sử.”
Đầu tháng 1/1941, từ Tịnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc cùng một số cán bộ Trung ương và cán bộ Cao Bằng bí mật lên đường, vượt qua biên giới Việt – Trung để trở về Tổ quốc.
Ngay trong suốt hành trình ấy, Người trực tiếp tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ, truyền đạt phương pháp xây dựng tổ chức, hướng dẫn cách thành lập các Hội Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, coi đây là bước chuẩn bị then chốt nhằm bảo đảm khi đặt chân lên đất Việt, phong trào cách mạng có thể triển khai ngay, không bị gián đoạn.

Ngày 28/1/1941 (tức mùng Hai Tết Tân Tỵ), Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt qua mốc 108 trên biên giới Việt – Trung (nay là mốc 675), đặt chân lên đất Pác Bó, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng. Đón Người trở về trong thời khắc lịch sử ấy có các đồng chí: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đặng Văn Cáp, Thế An, Hoàng Lộc.
Đồng bào các dân tộc Cao Bằng vinh dự thay mặt nhân dân cả nước đón Người sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước trở về. Cuộc trở về diễn ra lặng lẽ nhưng mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt lớn lao. Việc Nguyễn Ái Quốc lựa chọn Pác Bó, Cao Bằng làm nơi trở về xây dựng căn cứ địa cách mạng xuất phát từ tầm quan trọng chiến lược của địa bàn này.
Người từng nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại liền kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”.
Chính từ căn cứ Pác Bó, một bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam đã được quyết định. Từ ngày 10 đến 19/5/1941, tại lán Khuổi Nặm, Pác Bó, xã Trường Hà, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, với danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, qua đó quyết định sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, khẳng định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam.

Tham dự Hội nghị có các đồng chí: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, Vũ Anh… Hội nghị đã hoàn chỉnh và nâng tầm đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, lần đầu tiên đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, qua đó giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong những điều kiện cụ thể của Đông Dương.
Hội nghị cũng quyết định thành lập mặt trận dân tộc thống nhất ở mỗi nước Đông Dương; tại Việt Nam là Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh), gọi tắt là Mặt trận Việt Minh (thành lập ngày 19/5/1941).
Các nhà nghiên cứu lịch sử Đảng nhận định: “Hội nghị Trung ương 8 tại Pác Bó đã tạo ra sự thống nhất cao về tư tưởng và tổ chức, trở thành tiền đề trực tiếp để toàn dân tộc vùng lên trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945”. Từ Pác Bó, đường lối cách mạng mới được lan tỏa, thấm sâu vào phong trào quần chúng, tạo sự chuẩn bị toàn diện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang.
Ngay sau khi trở về nước, tại Pác Bó, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo việc thí điểm xây dựng Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân vào các đoàn thể cứu quốc; đồng thời kiểm nghiệm, bổ sung và hoàn thiện chương trình, điều lệ cũng như phương pháp tổ chức của Mặt trận trước khi mở rộng ra phạm vi cả nước.

Dưới sự chỉ đạo của Người, công tác thí điểm xây dựng Mặt trận Việt Minh được triển khai nhanh chóng từ Pác Bó lan tỏa ra các châu Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình. Chỉ trong vòng ba tháng (từ tháng 2 đến tháng 4/1941), phong trào Việt Minh đã thu hút khoảng 2.000 quần chúng là đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông…, thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, tham gia các đoàn thể cứu quốc như: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc…
Trước sự phát triển mạnh mẽ của các đoàn thể cứu quốc tại ba châu thí điểm, theo chỉ thị của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tháng 4/1941, Hội nghị cán bộ Cao Bằng được tổ chức nhằm tổng kết, rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của Mặt trận Việt Minh.
Trên cơ sở những kinh nghiệm đó, ngày 19/5/1941, theo sáng kiến của Người, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh), lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ hiệu của Việt Minh, sau này trở thành Quốc kỳ của nước Việt Nam.
Mặt trận Việt Minh chính thức ra đời với Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ, xác định rõ những chính sách cơ bản trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội và đối ngoại; đoàn kết toàn thể đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo hay xu hướng chính trị, nhằm thực hiện hai mục tiêu lớn: làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do.
Thông qua Mặt trận Việt Minh, các chủ trương lãnh đạo của Đảng nhanh chóng đi vào phong trào quần chúng, góp phần xây dựng một khối lực lượng chính trị rộng lớn, vững mạnh, được tôi luyện qua thực tiễn đấu tranh cách mạng. Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh là kết quả của đường lối chính trị đúng đắn của Đảng, gắn liền với tư duy cách mạng khoa học, sáng tạo của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Mặt trận Việt Minh đã lôi cuốn, tập hợp quần chúng nhân dân cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, góp phần quyết định vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Còn tiếp...