Từ năm 1941-1945, tại Pác Bó, Cao Bằng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ba lần trực tiếp dấn thân vào cuộc đấu tranh ngoại giao đầy hiểm nguy nhưng vô cùng sáng tạo, xây dựng sự ủng hộ của thế giới dành cho mặt trận Việt Minh, tiến tới Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8/1945. Đây chính là nền móng của ngoại giao Việt Nam hiện đại.
Ngày 13/8/1942, từ căn cứ Pác Bó (Cao Bằng), Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tên gọi Hồ Chí Minh cùng đồng chí Lê Quảng Ba vượt biên sang Trung Quốc tìm gặp tổ chức cách mạng thuộc Quốc tế Cộng sản, mở đầu cho một mặt trận mới của cách mạng Việt Nam: mặt trận ngoại giao cách mạng.

Tuy nhiên, chuyến đi đầu tiên này gặp phải thực tế khắc nghiệt. Chỉ sau 15 ngày đặt chân sang Trung Quốc, ngày 27/8/1942, Hồ Chí Minh bị chính quyền địa phương Trung Hoa Dân quốc bắt giữ tại Túc Vinh (Quảng Tây, Trung Quốc), với cáo buộc mơ hồ là “gián điệp”, “Hán gian”.
Từ đó đến tháng 9/1943, Người bị giải qua 13 nhà tù ở nhiều địa phương trong tỉnh Quảng Tây, chịu đựng đủ mọi hình thức giam cầm, đói rét, đày ải và hiểm nguy cận kề cái chết. Trong hoàn cảnh ấy, cuộc đấu tranh ngoại giao của cách mạng Việt Nam thu hẹp lại trong một mục tiêu tưởng chừng đơn giản nhưng vô cùng cam go: bảo toàn tính mạng và giành lại tự do cho Hồ Chí Minh.
Trong chuyến đi này có người bạn tri kỷ với Bác tên Dương Đào (còn có tên là Dương Thuần Cương) - một thanh niên dân tộc Choang ở thôn Pà Mông, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Ngày 28/8/1942, Dương Đào tình nguyện dẫn đường đưa Nguyễn Ái Quốc từ Pà Mông đi Bình Mã (huyện Điền Đông)...
Ngày 28/8/1942, dẫn đường cho Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Pà Mông đi Bình Mã (huyện Điền Đông), trên đường đi đến thôn Túc Vinh (huyện Thiên Bảo) thì bị bắt giữ. Kể từ ngày ấy, Dương Đào bị giam giữ qua nhiều nhà giam, cùng cuộc “hành trình” tù đày với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đến năm 1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh được trả tự do, liền sau đó Dương Đào cũng được thả và ra ở nhà trọ tại thành phố Liễu Châu, tuy nhiên chưa kịp về nhà thì qua đời.
Khi hay tin Dương Đào ốm nặng trong tù, Người đã viết bài thơ đầy cảm xúc, thấu tận tim gan:
Dương Đào ốm nặng
Sóng dậy đất bằng, hỏi cớ sao
Đẩy anh vào ngục, anh Dương Đào
Cháy thành lây vạ, buồn khôn xiết
Nay lại thương anh mắc chứng lao
(Hoàng Trung Thông dịch)- Bài số 117 trong tập thơ Nhật ký trong tù
Đến khi nghe tin Dương Đào qua đời vì ốm nặng, Bác Hồ rất đau xót, Người đã gửi thư báo tin và chia buồn với gia đình Dương Đào. Thư Bác viết: “Dương Đào là người anh em rất tốt với chúng tôi, chúng tôi không bao giờ quên anh”.
Điều đặc biệt, ngay trong ngục tối, Hồ Chí Minh không hề bị động. Trái lại, Người từng bước biến hoàn cảnh bất lợi thành không gian tôi luyện bản lĩnh ngoại giao hiếm có: kiên nhẫn, mềm dẻo nhưng không khuất phục; linh hoạt nhưng giữ vững nguyên tắc. Việc được trả tự do vào tháng 9/1943 không chỉ là thắng lợi cá nhân, mà là một thắng lợi chính trị, ngoại giao có ý nghĩa sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam trong bối cảnh quốc tế phức tạp.
Song thử thách chưa dừng lại ở đó. Dù không có căn cứ pháp lý để tiếp tục giam giữ, giới lãnh đạo Trung Hoa Dân quốc, từ Tưởng Giới Thạch đến Trương Phát Khuê, vẫn tìm cách giam lỏng Hồ Chí Minh tại Liễu Châu nhằm kiểm soát và lợi dụng Người cho những toan tính chiến lược của họ ở Đông Dương.
Trong tình thế “nửa tự do, nửa bị ràng buộc” ấy, Hồ Chí Minh tiếp tục thể hiện bản lĩnh ngoại giao sắc sảo. Thông qua làm việc trực tiếp với Trương Phát Khuê và bộ Tổng hành dinh Đệ tứ Chiến khu, Người từng bước tạo dựng được sự tin cậy, tranh thủ được không gian hoạt động hợp pháp cho Việt Minh.
Đỉnh cao của giai đoạn này là Đại hội Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội tổ chức tại Liễu Châu (25–28/2/1944), nơi Hồ Chí Minh trình bày Chương trình hành động của cách mạng Việt Nam gắn với cuộc đấu tranh chung của phe Đồng minh chống phát xít. Không chỉ khéo léo dung hòa lợi ích, Người còn chủ động đề xuất các giải pháp thống nhất lực lượng yêu nước Việt Nam ở trong và ngoài nước, đặt nền móng cho sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
Đến ngày 9/8/1944, Hồ Chí Minh được trả tự do hoàn toàn và trở về Pác Bó cuối tháng 9/1944, khép lại chuyến xuất quan đầu tiên đầy gian nan nhưng giàu giá trị chiến lược.

Theo GS.TS Phạm Hồng Tung, chính giai đoạn tù đày này đã giúp Hồ Chí Minh “hiểu rõ hơn tình hình thế giới và chính sách của các hữu bang”. Chỉ trong một thời gian ngắn, Hồ Chí Minh đã “chuyển bại thành thắng”, giành được cảm tình và sự ủng hộ của chính những người từng muốn lợi dụng Người.
Việc cuối cùng Chính phủ Trùng Khánh buộc phải chỉ đạo trả tự do cho Người cho thấy: cuộc đấu tranh ngoại giao đầu tiên, dù khởi đầu thất bại, đã tạo nên những “vốn liếng” chính trị - ngoại giao vô giá cho cách mạng Việt Nam. Chuyến xuất quan thứ nhất khép lại, không phải bằng sự thất bại, mà bằng một thắng lợi ngoại giao thầm lặng nhưng sâu sắc.
Cuối năm 1944, khi cục diện Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn quyết định, Hồ Chí Minh từ căn cứ địa Việt Bắc đã sớm nhận ra một sự chuyển dịch mang tính bước ngoặt của thời đại. Phe phát xít liên tiếp thất bại, lực lượng Đồng minh vươn lên nắm thế chủ động trên hầu khắp các chiến trường.
Với tầm nhìn chiến lược sắc bén, Người xác định: thời cơ giải phóng dân tộc Việt Nam đang đến rất gần, và trong bối cảnh đó, ngoại giao không chỉ là hỗ trợ, mà trở thành một mũi tiến công chiến lược song hành với đấu tranh chính trị và quân sự.
Chuyến xuất quan thứ hai của Hồ Chí Minh gắn liền với sự kiện phi công Mỹ William Shaw bị bắn rơi tại Cao Bằng và được lực lượng Việt Minh cứu sống. Đây là một tình huống hiếm có, mở ra khả năng tiếp xúc trực tiếp với Hoa Kỳ, cường quốc giữ vai trò trụ cột trong phe Đồng minh và có ảnh hưởng lớn đến trật tự thế giới sau chiến tranh. Hồ Chí Minh lập tức nhìn thấy giá trị chiến lược của sự kiện này và quyết định đưa Shaw sang Trung Quốc trao trả cho phía Mỹ, đồng thời tìm cách thiết lập mối liên hệ trực tiếp với quân đội Đồng minh.

Quyết định đó là một nước cờ được tính toán kỹ lưỡng, thể hiện tư duy kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Thông qua việc cứu giúp và bảo vệ phi công Mỹ, Hồ Chí Minh gửi đi một thông điệp rõ ràng: Việt Minh là lực lượng chống phát xít chân chính, có tổ chức, có kỷ luật và tôn trọng các chuẩn mực quốc tế. Việt Minh không đứng ngoài dòng chảy của thế giới, mà là một bộ phận tích cực trong mặt trận chung chống chủ nghĩa phát xít.
Tuy nhiên, thực tế mặt trận ngoại giao luôn phức tạp và đầy rủi ro. Trên đường thực hiện kế hoạch, Hồ Chí Minh và đoàn công tác gặp phải sự ngăn cản, tráo trở của một số tướng lĩnh Trung Hoa Dân quốc, tiêu biểu là Trần Bảo Xương. Những toan tính kiểm soát, thậm chí nguy cơ bắt giữ lại một lần nữa đặt Người vào tình thế hiểm nghèo. Trong hoàn cảnh ấy, Hồ Chí Minh buộc phải đưa ra quyết định rút lui kịp thời để bảo toàn lực lượng, tránh một cuộc đối đầu bất lợi có thể gây tổn hại đến toàn bộ chiến lược chung.

Cuộc rút lui gian nan, với quãng đường dài băng rừng núi hiểm trở, không làm chuyến xuất quan thứ hai trở nên vô nghĩa. Trái lại, nó phơi bày rõ tính chất cam go của mặt trận ngoại giao trong giai đoạn tiền khởi nghĩa, nơi mỗi bước đi đều gắn với sinh mệnh của lãnh tụ và vận mệnh của cách mạng. Dù chưa đạt được kết quả cụ thể tức thời, chuyến đi đã kịp thời khẳng định hình ảnh và vị thế của Việt Minh trong con mắt Đồng minh: một lực lượng đáng tin cậy, có khả năng kiểm soát địa bàn và hành động nhất quán vì mục tiêu chống phát xít.
Nhìn từ chiều dài lịch sử, chuyến xuất quan thứ hai là bước chuẩn bị quan trọng cho những chuyển động ngoại giao tiếp theo, đặc biệt là mối quan hệ hợp tác giữa Việt Minh và các cơ quan của Mỹ sau này. Đó là minh chứng sinh động cho tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh: chủ động mở cửa với thế giới, tranh thủ đúng đối tượng, đúng thời điểm, để tạo thế và lực cho cuộc tổng khởi nghĩa đang đến rất gần.
Nếu hai chuyến xuất quan trước đặt nền móng và thử thách bản lĩnh ngoại giao của Hồ Chí Minh trong môi trường quốc tế đầy nghi kỵ, thì chuyến xuất quan thứ ba, diễn ra đầu năm 1945, chính là bước hoàn chỉnh cả về tư duy chiến lược lẫn thực tiễn hành động trong việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Lúc này, ngoại giao không còn là hành trình dò đường, mà đã trở thành một mặt trận chủ động, nhằm khẳng định vị thế của Việt Minh trong hàng ngũ Đồng minh chống phát xít.

Cuối năm 1944, sau khi trở lại Pác Bó, Hồ Chí Minh nhận thấy thời cuộc đang chuyển biến với tốc độ khẩn trương. Phát xít Nhật đứng trước nguy cơ thất bại, trật tự thế giới hậu chiến bắt đầu hình thành, và cơ hội giành độc lập cho dân tộc Việt Nam đang đến rất gần. Trong bối cảnh đó, Người chủ động chỉ đạo chuẩn bị chuyến đi sang Trung Quốc lần thứ ba, với mục tiêu rõ ràng: thiết lập quan hệ hợp tác thực chất với lực lượng Đồng minh, đặc biệt là Hoa Kỳ, để tạo thêm thế và lực cho cách mạng trong nước.
Ngày 13-2-1945 (mùng Một Tết Ất Dậu), Hồ Chí Minh đã có mặt tại Côn Minh. Hành trình từ Pác Bó sang Côn Minh là một cuộc vượt núi băng rừng đầy gian khổ: đi bộ hơn 10 ngày trong điều kiện khắc nghiệt, rồi đi tàu hỏa khi sức khỏe suy kiệt, có thời điểm phải dừng lại vì bệnh nặng. Nhưng chính trong thử thách ấy, ý chí chiến lược của Người càng được tôi luyện: ngoại giao lúc này là nhiệm vụ sống còn, không thể trì hoãn.
Tại Côn Minh, Hồ Chí Minh nhanh chóng mở rộng các tiếp xúc với phía Mỹ. Ngày 17-3-1945, cuộc gặp với trung úy Charles Fenn của OSS tại văn phòng OWI đánh dấu bước chuyển từ tiếp xúc cá nhân sang trao đổi chính thức. Ngày 29-3-1945, Người làm việc trực tiếp với tướng Claire L. Chennault, Tư lệnh Tập đoàn không quân số 14. Đây là lần đầu tiên một lãnh tụ cách mạng ở Đông Dương đối thoại trực tiếp với chỉ huy quân sự cấp cao của Hoa Kỳ.
Điều nổi bật trong tư duy ngoại giao của Hồ Chí Minh là cách tiếp cận bình đẳng và chủ động. Người không “xin viện trợ”, mà đề xuất hợp tác cùng có lợi: Việt Minh cung cấp tin tức tình báo về quân Nhật và hỗ trợ cứu phi công Đồng minh; đổi lại, OSS hỗ trợ vũ khí, thuốc men, thiết bị liên lạc và huấn luyện kỹ thuật. Chính cách tiếp cận này đã khiến phía Mỹ nhìn nhận Việt Minh như một đối tác đáng tin cậy trong cuộc chiến chống phát xít.
Cuối tháng 4-1945, Hồ Chí Minh được máy bay Mỹ đưa từ Côn Minh về Tĩnh Tây, rồi trở lại Pác Bó cùng các nhân viên OSS và trang thiết bị quan trọng. Đầu tháng 5, Người quyết định chuyển đại bản doanh về Tân Trào, gắn kết chặt chẽ mặt trận quốc tế với trung tâm chỉ đạo cách mạng trong nước. Sự kiện “Đội Con Nai” nhảy dù xuống Tân Trào ngày 16-7-1945 không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ quân sự, mà còn là sự thừa nhận thực tế rằng Việt Minh thuộc phe Đồng minh thắng trận.

Từ Côn Minh đến Tân Trào, chuyến xuất quan thứ ba đã kết tinh trọn vẹn tư duy Hồ Chí Minh về ngoại giao cách mạng: độc lập, chủ động, linh hoạt nhưng kiên định mục tiêu. Đây là bước đi có ý nghĩa chiến lược, góp phần quyết định nâng cao vị thế chính trị của Việt Minh, tạo nền tảng quan trọng để cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đi tới thắng lợi trọn vẹn.
GS.TS Phạm Hồng Tung, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển (ĐHQG Hà Nội): Nhìn lại 85 năm Ngày Bác Hồ về nước, có thể khẳng định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 là kết quả của một cuộc đấu tranh toàn diện, được chuẩn bị công phu và bền bỉ trên nhiều mặt trận: từ đường lối chính trị, phương pháp tổ chức, đào tạo cán bộ, tuyên truyền, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, lực lượng vũ trang, cho đến đấu tranh ngoại giao.
Trong chỉnh thể đó, ngoại giao giữ vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần phá thế cô lập, tạo thế và lực quốc tế cho cách mạng Việt Nam. Việc công nhận ba chuyến xuất quan của Hồ Chí Minh giai đoạn 1941–1945 là sự khởi đầu của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, đồng thời ghi nhận Pác Bó – Cao Bằng là cái nôi của nền ngoại giao ấy, không chỉ là sự tri ân lịch sử, mà còn mang giá trị thời sự sâu sắc đối với công tác đối ngoại của Việt Nam hôm nay.
TS. Đỗ Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh: Từ Pác Bó đến Tân Trào, từ căn cứ địa Cao Bằng vươn ra không gian quốc tế trong những năm 1941–1945, Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho một mô hình ngoại giao cách mạng độc đáo của Việt Nam hiện đại. Trong hoàn cảnh vô cùng gian khó, Người vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, đồng thời chủ động hội nhập vào dòng chảy tiến bộ của thế giới trên nền tảng độc lập, tự chủ và bản lĩnh chính trị vững vàng.
Nguyên tắc đối ngoại xuyên suốt mà Người sớm xác lập là đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, nhưng không đứng ngoài các nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình và tiến bộ. Chính từ những hoạt động đối ngoại đầu tiên ở Pác Bó, qua Côn Minh đến Tân Trào, tư duy “thêm bạn, bớt thù” được hình thành, trở thành nền tảng cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng ta đến hôm nay.