Từ hành trình Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước (1911–1941) đến ngọn lửa cách mạng bừng lên ở Pác Bó, Cao Bằng (1941-1945), đây là sự trở về của một trí tuệ đã được tôi luyện qua phong trào cách mạng thế giới. Sự kiện này đồng thời mở ra thời đại Hồ Chí Minh Thời đại độc lập dân tộc gắn liền với xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc không chỉ với khát vọng độc lập, mà còn mang về cả một hệ thống tư tưởng, đường lối, tổ chức và phương pháp cách mạng hiện đại.
Trước biến động nhanh chóng của Chiến tranh thế giới thứ hai, khi thời cơ lịch sử chín muồi, tháng 5/1945, Người rời Pác Bó (Cao Bằng) đi Tân Trào (Tuyên Quang) trực tiếp lãnh đạo Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, kết tinh hành trình ba mươi năm tìm đường cứu nước thành thắng lợi vĩ đại, mở ra Thời đại Hồ Chí Minh- Thời đại độc lập dân tộc gắn liền với xây dựng chủ nghĩa xã hội
Từ năm 1941-1945, tại Pác Bó, Cao Bằng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triển khai một chương trình cách mạng toàn diện, hiếm thấy trong lịch sử các phong trào giải phóng thuộc địa. Tại đây, Người không chỉ xây dựng căn cứ địa mà còn đồng thời mở ra hai mặt trận song hành: mặt trận dân tộc và mặt trận quốc tế.
Ở trong nước, Mặt trận Việt Minh ra đời và nhanh chóng lan rộng, trở thành hình thức tổ chức chính trị bao trùm, tập hợp mọi giai tầng xã hội. Các đoàn thể cứu quốc được hình thành theo nguyên tắc linh hoạt, phù hợp với từng nhóm xã hội, biến khối quần chúng đông đảo thành lực lượng chính trị có tổ chức.

Song song với đó, từ Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc chủ động mở mặt trận đối ngoại. Ba chuyến “xuất quan” sang Trung Quốc đầy gian nan, hiểm nguy đến tính mạng nhưng là những bước đi chiến lược nhằm phá thế cô lập, tranh thủ sự ủng hộ của phe Đồng minh chống phát xít, đặc biệt là Hoa Kỳ. Tư duy “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” được hình thành không phải trên diễn đàn lý luận, mà ngay trong điều kiện gian khổ nhất của căn cứ địa.

TS Đỗ Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh nhận định: Từ Pác Bó, Cao Bằng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho một mô hình ngoại giao cách mạng rất hiện đại: độc lập, chủ động, linh hoạt nhưng không lệ thuộc; hội nhập nhưng không hòa tan. Chính từ nền tảng ấy, Việt Minh từng bước được nhìn nhận như một lực lượng chống phát xít thực sự, tạo lợi thế chính trị quan trọng cho giai đoạn tiền khởi nghĩa.
Tháng 5/1945, cục diện thế giới và trong nước chuyển biến với tốc độ chưa từng có. Phát xít Nhật đứng trước nguy cơ sụp đổ, trật tự quốc tế hậu chiến đang hình thành, trong khi phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam dâng lên mạnh mẽ trên khắp các vùng căn cứ.
Từ sự quan sát sắc sảo tình hình quốc tế và trong nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khẳng định: thời cơ cách mạng không còn tính bằng năm, mà bằng tháng, thậm chí bằng ngày.
Trong bối cảnh ấy, quyết định rời Cao Bằng – nơi khởi nguồn của phong trào cách mạng Việt Nam giai đoạn mới – để về Tân Trào (Tuyên Quang) mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt, đánh dấu bước chuyển từ chuẩn bị lực lượng sang trực tiếp lãnh đạo tổng khởi nghĩa.

Sáng ngày 4/5/1945, tại bản Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc và đoàn cán bộ cách mạng chia tay đồng bào để lên đường. Cuộc chia tay diễn ra trong không khí xúc động và lưu luyến.
Dù đời sống nhiều khó khăn, nhưng bà con các dân tộc vẫn chuẩn bị áo chàm, giày vải, mũ, khăn, gạo và những nắm cơm giản dị cho đoàn mang theo dọc đường. Đó không chỉ là sự giúp đỡ vật chất, mà là niềm tin sâu sắc của nhân dân đối với lãnh tụ và con đường cách mạng mà Người đã vì độc lập dân tộc.
Đoàn công tác đi bộ bí mật đường rừng 18 ngày vượt hơn 400km qua 10 huyện của Cao Bằng, Bắc Kạn (cũ) và Tuyên Quang, với 13 điểm dừng chân qua đêm. Đường đi hiểm trở, núi cao, sông sâu, nhiều đoạn sát đồn giặc.
Đặc biệt, dãy Phja Boóc quanh năm mây mù, rừng rậm rạp, thú dữ rình rập, luôn tiềm ẩn nguy cơ bị lùng sục. Để bảo đảm an toàn, đoàn chủ yếu đi ban đêm, ban ngày ẩn mình trong rừng sâu.
Trong gian khó ấy, đồng bào các dân tộc Nùng, Tày, Dao, Mông… đã trở thành chỗ dựa vững chắc. Dù nghèo khó, đồng bào vẫn hết lòng che chở, nuôi giấu, dẫn đường, tổ chức canh gác, đánh lạc hướng mật thám. Chính sự đùm bọc tự nguyện và tuyệt đối trung thành ấy đã tạo nên “lá chắn nhân dân”, bảo vệ an toàn cho lãnh tụ và bộ não của cách mạng trong thời khắc quyết định.
Những ký ức lịch sử được ông Hoàng Thăng Bắc, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Ba Bể, kể lại qua lời cha mình là đồng chí Hoàng Văn Đàm – Chủ nhiệm lâm thời Việt Minh châu Trưng Vương.
.jpeg)
Chiều 13/5/1945, khi Nguyễn Ái Quốc đến trung tâm huyện, phong trào Việt Minh nơi đây đã phát triển mạnh, thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc tham gia, Ủy ban lâm thời được thành lập từ ngày 30-3-1945.
Người chỉ thị đồng chí Võ Nguyên Giáp triệu tập nhân dân tại Tổng Luyên để nói chuyện, trực tiếp giải đáp những băn khoăn của bà con về tiền tệ, vũ khí và con đường giành chính quyền. Bằng lập luận giản dị mà thuyết phục, Người khẳng định: sức mạnh cách mạng không nằm ở vũ khí tối tân, mà ở khối đại đoàn kết toàn dân, chiến thuật phù hợp và sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Câu nói “Vũ khí tối tân không bằng toàn dân đoàn kết” từ đó khắc sâu trong lòng nhân dân.
Ngày 16/5/1945, khi đoàn đi qua Bản Pịt, bất ngờ nghe tiếng súng Nhật nổ, nguy cơ bị lộ xuất hiện. Nguyễn Ái Quốc lập tức chỉ đạo đoàn tản vào rừng Khuổi Luông, sau đó men theo đường rừng đến nhà ông Lăng Văn Quân, tiếp tục chỉ đạo củng cố khối đại đoàn kết ở cơ sở. Các thư mật được giao cho cán bộ địa phương vượt rừng chuyển đi an toàn, bảo đảm mạch liên lạc của cách mạng không bị gián đoạn.
Từng bước chân từ Pác Bó đi Tân Trào là sự kết tinh của niềm tin nhân dân, bản lĩnh lãnh tụ và tầm nhìn chiến lược. Chính từ hành trình ấy, cách mạng Việt Nam đã tiến đến trung tâm chỉ đạo mới, sẵn sàng phát lệnh Tổng khởi nghĩa, đưa dân tộc bước vào thời khắc quyết định của lịch sử.
Tân Trào được lựa chọn không chỉ vì vị trí địa lý thuận lợi, nằm ở trung tâm căn cứ Việt Bắc, mà còn bởi nơi đây hội tụ đầy đủ các điều kiện để trở thành “thủ đô khu giải phóng”.


Ngày 21/5/1945, Người đến Tân Trào, ở tạm nhà dân rồi sau đó lên Nà Nưa đơn sơ giữa núi rừng (6-8/1945, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang) và khẩn trương làm việc ngày đêm, chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa toàn quốc.
Người làm việc quá sức ốm nặng, sốt cao nhưng luôn quyết tâm thực hiện con đường giải phóng dân tộc, Người dặn dò đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Chính tại đây, những quyết sách mang trọng đại đối với vận mệnh dân tộc được hình thành là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài, bài bản và khoa học.
Từ ngày 13 đến 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào đã phân tích sâu sắc tình hình quốc tế và trong nước, khẳng định thời cơ “ngàn năm có một” đã chín muồi, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương.
Ngay sau đó, ngày 16/8/1945, dưới gốc đa Tân Trào, đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Ủy ban Khởi nghĩa đọc Quân lệnh số 1, làm lễ xuất quân. Quốc dân đại hội khai mạc tại đình Tân Trào, nhất trí tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, lập ra Chính phủ lâm thời do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc làm Chủ tịch; quy định Quốc ca; Quốc kỳ.

Chuỗi sự kiện ấy cho thấy một logic chặt chẽ hiếm có trong lịch sử các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc: từ quyết sách của Đảng, đến sự đồng thuận của toàn dân, rồi nhanh chóng chuyển hóa thành hành động cách mạng thống nhất trên phạm vi cả nước.
Đặc biệt ở Tân Trào không chỉ nằm ở quyết định phát lệnh Tổng khởi nghĩa, mà ở chỗ thời cơ lịch sử đã được “kết tinh” đầy đủ ba yếu tố then chốt: ý Đảng vững vàng, lòng dân đồng thuận và xu thế thời đại ủng hộ.
Cách mạng Việt Nam lúc này không còn là một phong trào nổi dậy đơn lẻ. Việt Minh bước vào Tổng khởi nghĩa có lực lượng chính trị, toàn dân hưởng ứng, quân sự đã được tôi luyện qua thực tiễn, đồng thời có vị thế nhất định trong con mắt quốc tế, thông qua các mối liên hệ với lực lượng Đồng minh chống phát xít. Chính sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại đã tạo nên lợi thế quyết định cho thắng lợi nhanh gọn của Cách mạng Tháng Tám.

Từ Tân Trào, sau lệnh Tổng khởi nghĩa toàn quốc được phát đi, khắp nơi từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến đồng bằng các tầng lớp nhân dân nhất tề đứng dậy đánh đuổi đế quốc Pháp, phát xít Nhật và bè lũ phong kiến tay sai.
Chỉ trong vòng nửa cuối tháng 8/1945, chính quyền cách mạng đã về tay nhân dân trên phạm vi toàn quốc, chấm dứt ách thống trị của chế độ thực dân, phong kiến. Đó là kết quả tất yếu của một quá trình chuẩn bị kiên trì, khoa học, được dẫn dắt bởi tầm nhìn chiến lược vượt thời đại của Hồ Chí Minh.
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kiện ấy không chỉ khép lại hơn tám thập niên đô hộ của chủ nghĩa thực dân, mà còn mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: kỷ nguyên độc lập, tự do và làm chủ vận mệnh của nhân dân Việt Nam. Đồng thời là tiếng nói thức tỉnh hàng trăm triệu người bị áp bức khổ đau trên thế giới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc thế kỷ XX.

Từ khoảnh khắc lịch sử ấy, Việt Nam bước lên vũ đài quốc tế với tư thế của một dân tộc đã tự mình đứng dậy, bằng trí tuệ, bản lĩnh và sức mạnh đại đoàn kết, mở ra Thời đại Hồ Chí Minh - thời đại của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thời đại Việt Nam đồng hành cùng dòng chảy tiến bộ của nhân loại.
Từ Pác Bó đến Tân Trào vì thế không chỉ là một địa danh lịch sử, mà là biểu tượng của nghệ thuật chớp thời cơ, của bản lĩnh lãnh đạo cách mạng và của trí tuệ Việt Nam trong thời khắc quyết định của thế kỷ XX.
PGS.TS Lê Văn Yên, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Biên tập xuất bản, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia: Hành trình từ Pác Bó đến Tân Trào không chỉ mở ra thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mà còn khai sinh ra nước một thời đại mới - Thời đại Hồ Chí Minh: độc lập dân tộc gắn liền với xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong hành trình ấy, Nguyễn Ái Quốc đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản vô giá: tư duy chiến lược, bản lĩnh chính trị và phương pháp hành động mang tầm thời đại.
Nhìn lại hành trình của Người, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, những bài học về độc lập, tự chủ, chủ động đối ngoại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vẫn giữ nguyên giá trị thời sự. Pác Bó - Tân Trào không chỉ là địa danh lịch sử, mà là biểu tượng của bản lĩnh Việt Nam trên hành trình hội nhập và phát triển bền vững trong thế kỷ XXI.