Kinh tế

Việt Nam đặt mục tiêu hình thành 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh vào năm 2030

Trang Nhi 30/08/2026 09:14

Đến năm 2030, tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển được đặt mục tiêu đóng góp trên 70% GDP cả nước; hình thành 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh, 5-6 trung tâm logistics hiện đại ngang tầm quốc tế, phát triển 6-10 GW điện gió ngoài khơi. Những mục tiêu này cho thấy kinh tế biển đang được đặt vào vị trí một không gian tăng trưởng quan trọng của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Ngày 7/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Kinh tế biển
Ảnh minh họa

Điểm đáng chú ý là chương trình không chỉ đặt ra định hướng chung mà xác định hàng loạt chỉ tiêu kinh tế cụ thể đến năm 2030, từ tăng trưởng của các địa phương ven biển, vận tải biển, logistics đến điện gió ngoài khơi, du lịch biển và hệ thống hạ tầng kết nối.

Kinh tế biển phải đóng góp trên 70% GDP

Theo Chương trình hành động của Chính phủ, đến năm 2030, tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đặt mục tiêu đóng góp trên 70% GDP cả nước.

Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hằng năm của các tỉnh, thành phố ven biển được đặt mục tiêu trên 11%; thu nhập bình quân đầu người tại khu vực này cao hơn bình quân cả nước khoảng 1,2-1,3 lần.

Đáng chú ý, Việt Nam đặt mục tiêu hình thành 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh và 3 khu kinh tế đặc biệt vào năm 2030.

Các con số cho thấy tư duy phát triển kinh tế biển đang được mở rộng. Không gian kinh tế biển không chỉ là khai thác tài nguyên hay đánh bắt thủy sản, mà được kết nối với công nghiệp, năng lượng, vận tải, logistics, du lịch, đô thị và các khu kinh tế ven biển.

Chính phủ yêu cầu tập trung phát triển các khu đô thị, khu kinh tế, trung tâm công nghiệp, dịch vụ và logistics ven biển theo hướng hiện đại, đa ngành, đa chức năng. Giai đoạn 2026-2030 phải triển khai các quy hoạch, cơ chế và dự án phục vụ mục tiêu này.

Cùng với đó là yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng biển và mở rộng không gian phát triển quốc gia. Một chỉ tiêu đáng chú ý khác là hoàn thành 100% tuyến đường bộ ven biển theo quy hoạch vào năm 2030.

Điều này mở ra một cấu trúc phát triển trong đó cảng biển, đường ven biển, khu công nghiệp, đô thị, khu kinh tế và các trung tâm dịch vụ không phát triển riêng lẻ mà phải được kết nối thành những chuỗi kinh tế ven biển.

5-6 trung tâm logistics ngang tầm quốc tế

Logistics là một trong những mắt xích được đặt mục tiêu cụ thể.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu hình thành 5-6 trung tâm logistics hiện đại ngang tầm quốc tế, đồng thời đưa chi phí logistics xuống dưới 12% GDP.

Chương trình cũng đặt mục tiêu nâng thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu do đội tàu biển Việt Nam đảm nhận lên 20%.

Để thực hiện, Chính phủ xác định phát triển kinh tế hàng hải gắn với hệ thống cảng biển xanh, thông minh; phát triển đội tàu vận tải biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu cùng dịch vụ logistics hàng hải.

Một yêu cầu quan trọng là hệ thống cảng biển phải được kết nối đồng bộ với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không. Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng sẽ được rà soát, điều chỉnh.

Như vậy, bài toán cảng biển trong giai đoạn mới không đơn thuần là tăng số bến hay công suất thông qua hàng hóa. Khả năng kết nối cảng với mạng lưới giao thông và các trung tâm sản xuất, logistics phía sau cảng sẽ trực tiếp quyết định hiệu quả của hệ thống.

Đây cũng là điều kiện để tăng tỷ lệ hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đội tàu Việt Nam và giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp.

Đặt mục tiêu 6-10 GW điện gió ngoài khơi

Một trụ cột mới của kinh tế biển là năng lượng.

Theo Nghị quyết 218/NQ-CP, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển các dự án điện gió ngoài khơi với công suất 6-10 GW.

Chính phủ đồng thời yêu cầu phát triển ngành dầu khí, công nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí và khai thác tài nguyên, khoáng sản biển theo hướng hiệu quả, bền vững; hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù đối với các dự án vùng nước sâu, xa bờ, mỏ cận biên và dự án năng lượng ngoài khơi.

Điện gió ngoài khơi vì vậy không chỉ là câu chuyện bổ sung nguồn điện. Khi hình thành ở quy mô lớn, lĩnh vực này còn kéo theo nhu cầu về cảng chuyên dụng, tàu dịch vụ, cơ khí chế tạo, kết cấu thép, vận tải siêu trường, siêu trọng, hệ thống truyền tải và các dịch vụ kỹ thuật trên biển.

Nếu hình thành được chuỗi cung ứng trong nước, năng lượng ngoài khơi có thể tạo thêm một lớp công nghiệp mới gắn với không gian biển.

Từ khai thác biển sang tạo giá trị từ biển

Ngoài hàng hải, logistics và năng lượng, chương trình đặt ra những chỉ tiêu cụ thể đối với du lịch và thủy sản.

Tổng thu du lịch biển, đảo được đặt mục tiêu tăng bình quân 14% mỗi năm. Giá trị sản xuất nuôi biển tăng bình quân 8%/năm và đến năm 2030, nuôi biển chiếm khoảng 15% tổng giá trị sản xuất thủy sản.

Đối với thủy sản, định hướng là cơ cấu lại ngành, giảm khai thác ven bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ có trách nhiệm và phát triển nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao; đồng thời hoàn thiện hạ tầng, giống, bảo quản, chế biến, bảo hiểm thủy sản và chính sách hỗ trợ ngư dân.

Những mục tiêu trên cho thấy trọng tâm đang dịch chuyển từ khai thác tài nguyên đơn thuần sang nâng giá trị kinh tế tạo ra trên mỗi đơn vị tài nguyên và không gian biển.

Đi cùng với tăng trưởng là yêu cầu phát triển kinh tế biển xanh, thông minh, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và cải thiện đời sống người dân vùng biển, đảo.

Chương trình hành động cũng xác định rõ cơ quan chủ trì, phối hợp, kết quả cần đạt và thời hạn thực hiện đối với từng nhóm nhiệm vụ. Các bộ, ngành và địa phương phải lồng ghép nhiệm vụ phát triển quốc gia biển mạnh với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công, tài chính - ngân sách, quy hoạch và chương trình công tác hằng năm.

Với mục tiêu các địa phương ven biển đóng góp trên 70% GDP, tăng trưởng GRDP bình quân trên 11% mỗi năm, cùng hàng loạt chỉ tiêu về cảng biển, logistics, năng lượng và đô thị ven biển, vấn đề quan trọng trong những năm tới sẽ là khả năng biến các mục tiêu trên giấy thành những dự án, dòng vốn và chuỗi giá trị cụ thể.

Bởi để trở thành một quốc gia biển mạnh, lợi thế về vị trí địa lý mới chỉ là điều kiện ban đầu. Giá trị thực sự nằm ở khả năng tổ chức lại không gian kinh tế hướng biển, kết nối hạ tầng và xây dựng những ngành công nghiệp đủ sức cạnh tranh từ chính lợi thế đó.

(0) Bình luận
Nổi bật
Việt Nam đặt mục tiêu hình thành 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh vào năm 2030