Chính trị

Kiến tạo hệ sinh thái du lịch tạo giá trị và sức mạnh mềm

Đoàn Gia 06/09/2026 11:08

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu đặt du lịch trong chiến lược phát triển đất nước và không gian kinh tế vùng. Chỉ đạo này đòi hỏi tổ chức du lịch như một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng và giá trị gia tăng. Tinh thần của Nghị quyết số 26-NQ/TW là biến tài nguyên văn hóa, thiên nhiên thành nguồn lực phát triển bền vững, đồng thời nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Từ khai thác tài nguyên đến kiến tạo giá trị

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới được ban hành trên nền tảng gần mười năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW.

Quy mô thị trường đã mở rộng đáng kể, năm 2025, Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 137 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng một triệu tỷ đồng, đóng góp trực tiếp gần 8,8% GDP.

Những con số ấy khẳng định sức bật của ngành, nhưng cũng đặt ra câu hỏi lớn hơn: vì sao tiềm năng phong phú chưa chuyển hóa đầy đủ thành sản phẩm có chiều sâu, mức chi tiêu cao, thời gian lưu trú dài và năng lực cạnh tranh bền vững? Danh xưng “mũi nhọn” chỉ có nội hàm khi du lịch tạo thêm giá trị cho nhiều ngành và lan tỏa tới đời sống cộng đồng.

khach_du_lich.webp
Du lịch phải là một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng và giá trị gia tăng

Điểm nghẽn vì thế không đơn thuần nằm ở số lượng danh thắng hay di sản. Trong bài phân tích đăng ngày 5/9 trên Báo Nhà báo và Công luận, PGS,TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, lưu ý rằng sở hữu nhiều tài nguyên chưa đồng nghĩa với trở thành một cường quốc du lịch.

Nhận định này gợi đúng tinh thần Nghị quyết số 26, phải chuyển từ khai thác những gì sẵn có sang kiến tạo giá trị từ những gì đất nước có. Một di tích chỉ được bảo tồn và mở cửa chưa đương nhiên trở thành sản phẩm hấp dẫn.

Điểm đến cần câu chuyện, phương thức diễn giải, dịch vụ, không gian trải nghiệm và chuỗi sản phẩm đủ sức khiến du khách ở lại lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn và mong muốn quay trở lại.

Bởi vậy, chuyển từ số lượng sang chất lượng không có nghĩa xem nhẹ quy mô khách, mà thay đổi thứ tự ưu tiên và hệ tiêu chí điều hành. Mục tiêu đến năm 2030 đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa, đạt tổng thu 80-90 tỷ USD và đóng góp trực tiếp 10-12% GDP là rất cao. Tuy nhiên, Nghị quyết đồng thời xác định trọng tâm là thị trường khách có khả năng chi tiêu cao, lưu trú dài ngày.

Điều đó buộc mỗi điểm đến phải theo dõi không chỉ số lượt vào cửa, mà cả doanh thu trên khách, thời gian lưu trú, tỷ lệ quay lại, giá trị nội địa trong chuỗi cung ứng, chất lượng việc làm và mức độ hài lòng. Khi thước đo thay đổi, chính sách đầu tư, xúc tiến và phát triển sản phẩm cũng phải thay đổi theo.

Trong mô hình mới, văn hóa không phải phần trang trí để tăng vẻ hấp dẫn cho điểm đến, mà là nền tảng tạo nên khác biệt. Biển đẹp, khách sạn hiện đại hay trung tâm mua sắm có thể tìm thấy tại nhiều quốc gia; lịch sử, lối sống, nghệ thuật, ẩm thực và ký ức cộng đồng Việt Nam mới là phần khó sao chép.

Nghị quyết số 26 vì thế kết nối du lịch với điện ảnh, âm nhạc, thời trang, biểu diễn thực cảnh, thủ công mỹ nghệ, kinh tế di sản và kinh tế đêm. Mỗi bộ phim, lễ hội, món ăn hay sản phẩm làng nghề có thể trở thành điểm chạm của một câu chuyện quốc gia.

Khi nội dung văn hóa được sáng tạo thành trải nghiệm đương đại, du lịch vừa tạo giá trị kinh tế, vừa truyền đi hình ảnh Việt Nam bằng con đường tự nhiên và thuyết phục.

Hệ sinh thái chỉ bền vững khi người dân được thụ hưởng

Tổ chức du lịch như một hệ sinh thái cũng đòi hỏi vượt qua cách làm “địa phương nào biết địa phương đó”. Hành trình của du khách thường đi qua nhiều địa bàn, sử dụng nhiều loại hình vận tải, lưu trú, ẩm thực, mua sắm và giải trí; nhưng sản phẩm, dữ liệu và hoạt động xúc tiến vẫn có nơi bị chia cắt theo ranh giới quản lý.

Đặt du lịch trong không gian kinh tế vùng là yêu cầu hình thành tuyến sản phẩm chung, thương hiệu chung và cơ chế chia sẻ lợi ích giữa các điểm đến. Một cực tăng trưởng mạnh phải kéo được chuỗi dịch vụ của vùng cùng phát triển, thay vì hút hết dòng khách và doanh thu về một trung tâm. Liên kết thực chất cần được đo bằng hành trình liền mạch và phần giá trị mà các địa phương cùng tạo ra, cùng được hưởng.

Muốn chuỗi giá trị ấy vận hành, thể chế và hạ tầng phải đi trước. Nghị quyết đặt ra những nhiệm vụ rất cụ thể về chính sách thị thực, hoàn thuế, kinh tế đêm, mô hình kinh doanh trên nền tảng số, kết nối đa phương tiện từ cửa ngõ quốc tế tới trung tâm du lịch và khu du lịch quốc gia.

Đây không phải danh mục giải pháp rời rạc. Thị thực thuận lợi nhưng chuyến bay thiếu kết nối, giao thông tốt nhưng điểm đến nghèo dịch vụ, sản phẩm hấp dẫn nhưng thanh toán và hoàn thuế bất tiện thì mức chi tiêu vẫn khó tăng.

Theo chỉ đạo chung tại Hội nghị học tập, quán triệt một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, mỗi điểm nghẽn phải được giao đúng một đầu mối, đủ thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn và dữ liệu kiểm chứng; không thể để một hành trình du lịch bị chia nhỏ bởi trách nhiệm quản lý phân tán.

Quản trị theo dữ liệu là điều kiện để chuyển từ điều hành bằng ước đoán sang quản trị điểm đến hiện đại. Cơ sở dữ liệu quốc gia cần kết nối thông tin về thị trường, dịch vụ, hạ tầng và sức tải môi trường, giúp cơ quan quản lý biết khách cần gì, chi tiêu ở đâu và điểm đến đang chịu áp lực ra sao.

Nghị quyết số 26 xác định doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, còn Nhân dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng. Sự phân vai này ngăn hai lệch lạc thường gặp: trông chờ hoàn toàn vào đầu tư nhà nước, hoặc thương mại hóa điểm đến mà cộng đồng địa phương đứng ngoài chuỗi giá trị.

du_lich.jpg
Du lịch vừa đóng góp tăng trưởng, vừa bồi đắp bản sắc và sức mạnh mềm Việt Nam.

Doanh nghiệp có năng lực vốn, công nghệ, thị trường và quản trị để dẫn dắt sản phẩm quy mô lớn; người dân nắm giữ tri thức bản địa, ký ức văn hóa và trực tiếp tạo nên môi trường hiếu khách.

Hệ sinh thái chỉ bền khi hộ dân, nghệ nhân, lao động nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số có cơ hội kinh doanh, việc làm và thu nhập xứng đáng. Lợi ích từ du lịch phải trở thành động lực để chính cộng đồng gìn giữ di sản, cảnh quan và nếp sống của mình.

Chỉ đạo không đánh đổi di sản, bản sắc và môi trường lấy tăng trưởng trước mắt vừa là giới hạn, vừa là tiêu chuẩn của chất lượng. Một điểm đến quá tải có thể tăng doanh thu ngắn hạn nhưng làm suy giảm tài nguyên và trải nghiệm, cuối cùng tự đánh mất lợi thế.

Kết quả thực hiện Nghị quyết vì thế không thể chỉ tổng hợp bằng lượt khách hay số dự án, mà phải nhìn vào giá trị giữ lại trong nước, sinh kế cộng đồng, chất lượng việc làm, mức độ bảo tồn, sức tải điểm đến và uy tín thương hiệu quốc gia.

Khi văn hóa trở thành nội dung, công nghệ là công cụ, doanh nghiệp tạo động lực và người dân thực sự được thụ hưởng, du lịch mới làm tròn vai trò ngành kinh tế mũi nhọn — vừa đóng góp tăng trưởng, vừa bồi đắp bản sắc và sức mạnh mềm Việt Nam.

(0) Bình luận
Nổi bật
Kiến tạo hệ sinh thái du lịch tạo giá trị và sức mạnh mềm