Đà Nẵng bước vào giai đoạn 2026-2030 với định hướng củng cố nền tài chính - ngân sách, mở rộng quy mô thu và nâng tỷ trọng chi đầu tư phát triển. Kế hoạch tài chính 5 năm đặt ra mục tiêu tăng thu tối thiểu 10% mỗi năm, tạo dư địa cho các dự án hạ tầng và chiến lược tăng trưởng mới của thành phố.
Những mục tiêu này thể hiện kỳ vọng lớn về sự bứt phá của thành phố trong giai đoạn mới sau sắp xếp đơn vị hành chính, song cũng đặt ra yêu cầu cao về năng lực điều hành và huy động nguồn lực.
Định hướng tài chính giai đoạn 2026-2030
Theo kế hoạch UBND TP. Đà Nẵng trình tại kỳ họp HĐND khóa X, tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2026-2030 dự kiến đạt 392.147 tỷ đồng, với tốc độ tăng thu bình quân 10%/năm. Trong đó, thu nội địa giữ vai trò chủ lực, dự kiến đạt 351.810 tỷ đồng, chiếm 87,7% tổng thu và tăng bình quân 10,1%/năm.
Thu tiền sử dụng đất khoảng 33.500 tỷ đồng, chiếm 9,5% tổng thu nội địa; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 40.337 tỷ đồng, tương đương 12,3% tổng thu ngân sách.

Kế hoạch tài chính được xây dựng trên cơ sở mục tiêu của Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, trong đó GRDP hướng đến mức tăng bình quân 11%/năm và tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng 14-15%/năm. Thu ngân sách được đặt mục tiêu tăng tối thiểu 10%/năm, phù hợp định hướng nâng cao khả năng tự chủ tài chính của chính quyền địa phương.
Ở cấp ngân sách địa phương, tổng thu theo phân cấp dự kiến đạt 256.232 tỷ đồng; tổng thu được hưởng (không kể viện trợ) đạt 305.516 tỷ đồng. Thu bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương được dự kiến ở mức 49.284,5 tỷ đồng.
Về chi ngân sách, tổng chi giai đoạn 2026-2030 dự kiến là 315.057 tỷ đồng. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 118.000 tỷ đồng, chiếm 37,5% tổng chi; chi thường xuyên 175.451 tỷ đồng, tương đương 55,7%. Thành phố đề ra mục tiêu giữ tỷ trọng chi đầu tư phát triển bình quân trên 35% và chi thường xuyên dưới 60% tổng chi ngân sách địa phương.
Nguồn lực tài chính - cơ hội và sức ép
Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, thành phố xác định cần huy động hiệu quả các nguồn lực tài chính. Trong đó, vay nợ đầu tư hạ tầng là điểm đáng chú ý. Giai đoạn 2026-2030, nhu cầu rút vốn vay lại Chính phủ vay nước ngoài dự kiến là 1.541 tỷ đồng; nhu cầu vay đầu tư cơ sở hạ tầng ngoài nguồn vay lại là 8.000 tỷ đồng. Tổng trả nợ gốc vay lại là 1.210 tỷ đồng. Dư nợ cuối kỳ năm 2030 dự kiến đạt 10.884 tỷ đồng, tương đương 15% hạn mức dư nợ vay tối đa.
Bên cạnh nguồn lực, các áp lực thực thi được đánh giá là đáng kể. Trước hết là yêu cầu cải thiện chất lượng thu trong bối cảnh những năm gần đây thu tiền sử dụng đất có xu hướng giảm do thị trường bất động sản trầm lắng. Tỷ trọng thu từ đất ở giai đoạn 2021-2025 giảm còn dưới 10% tổng thu nội địa, ảnh hưởng trực tiếp khả năng tăng thu của địa phương.
Một thách thức khác đến từ xuất nhập khẩu. Giai đoạn 2023-2025, thu từ hoạt động này giảm mạnh khi kim ngạch nhập khẩu ô tô bị siết chặt theo quy định mới và doanh nghiệp lớn như Tập đoàn Trường Hải giảm sản lượng nhập khẩu. Dự báo giai đoạn 2026-2030, áp lực duy trì mức thu ổn định từ khu vực này tiếp tục hiện hữu.

Chi thường xuyên vẫn ở mức cao là điểm thách thức lớn. Giai đoạn 2021-2025, chi thường xuyên chiếm 59% tổng chi ngân sách địa phương; sang giai đoạn 2026-2030, tỷ trọng này được đặt mục tiêu dưới 60%. Tuy nhiên, nhu cầu chi cho an sinh, cải cách tiền lương và mở rộng dịch vụ công sẽ tiếp tục tạo sức ép đối với cân đối ngân sách.
Ngoài ra, tiến độ giải ngân đầu tư công trong giai đoạn trước chưa đạt mục tiêu, đòi hỏi sự cải thiện mạnh mẽ để đảm bảo hiệu quả của nguồn vốn đầu tư phát triển - trụ cột của tăng trưởng trung hạn.
Kế hoạch tài chính 2026-2030 thể hiện kỳ vọng lớn của Đà Nẵng trong việc thiết lập nền tảng tăng trưởng mới với mục tiêu GRDP tăng bình quân 11%/năm và tổng thu ngân sách tăng tối thiểu 10%/năm. Nguồn lực được dự tính ở mức cao, phân bổ theo hướng ưu tiên đầu tư phát triển, giảm áp lực chi thường xuyên.
Để hiện thực hóa các mục tiêu đặt ra, thành phố phải chú trọng củng cố nền tảng thu bền vững, tạo chuyển biến trên thị trường bất động sản, nâng chất lượng nguồn thu từ xuất nhập khẩu, kiểm soát chi và cải thiện hiệu quả đầu tư công. Việc triển khai kế hoạch đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cấp, ngành cùng khả năng điều hành linh hoạt trước những biến động của môi trường kinh tế.