Chính trị

Bài 1: Tư duy lớn mở đường cho khát vọng vươn mình

PV 25/10/2025 07:30

Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên hành động, khẳng định bản lĩnh và tầm vóc trên trường quốc tế, đẩy mạnh ngoại giao toàn diện phục vụ phát triển, với ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ là trọng tâm và ngoại giao văn hóa là nền tảng lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia.

4(3).jpg
2(3).jpg

Sau 40 năm đổi mới và phát triển, đứng trước thời kỳ bình minh của kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, thời gian tới công tác đối ngoại cần củng cố “thế và lực”, chủ động, phát hiện những cơ hội giữa những thách thức, là “đội quân tiên phong” lan tỏa “phiên bản Việt Nam độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, hữu nghị, phát triển, phồn vinh, hạnh phúc” đến bạn bè quốc tế.

Đồng thời, mục tiêu cao nhất của ngoại giao phải là phụng sự vì lợi ích quốc gia, vì sự phồn vinh của dân tộc, vì sự vững mạnh của Đảng lãnh đạo, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Từ đó, chủ động, tự tin hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, lan tỏa sức mạnh mềm Việt Nam ra thế giới, huy động nguồn lực mạnh mẽ của cộng đồng người Việt tại hải ngoại, tự lực, tự cường, đa dạng hóa, đa phương hóa, gắn kết ba trụ cột đối ngoại với an ninh, quốc phòng, cùng bám sát các phương châm được đúc kết từ lịch sử “thêm bạn, bớt thù”, “hòa mục”, “hòa hiếu”, “lấy chí nhân thay cường bạo”, “dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Nhìn lại chặng đường đến kỳ đài đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam, tư duy Đảng ta đã dần lột xác trưởng thành, phát triển các thế trận về ngoại giao từ những bài học truyền thống quý báu cộng hưởng khát vọng bay cao, bay xa của dân tộc Việt Nam.

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ nói chung, cán bộ ngoại giao nói riêng rằng “Mục đích bất di dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì phải linh hoạt”. Sự tài tình và khéo léo trong nghệ thuật ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ: “rất nguyên tắc về chiến lược lại rất linh hoạt về sách lược. Vừa nhìn xa trông rộng, vừa thiết thực cụ thể”. Nhìn lại chiều dài lịch sử ngoại giao của dân tộc, nhờ sự linh hoạt trong sách lược về ngoại giao, Việt Nam đã nhiều lần chuyển biến căn cơ về cục diện ngoại giao với các nước láng giềng, đóng góp vào các thắng lợi chung của toàn dân tộc, bảo vệ lợi ích quốc gia, giữ yên bờ cõi nước nhà.

Đặc biệt, trong giai đoạn xây dựng và phát triển Nhà nước xã hội chủ nghĩa, trước bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, ngoại giao Việt Nam đã vươn tầm khu vực và quốc tế, trở thành một trong những trụ cột quan trọng của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng.

Có thể thấy, đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới của Việt Nam được hình thành và phát triển qua một quá trình kế thừa, bổ sung và hoàn thiện liên tục, khởi đầu từ Đại hội VI (1986) của Đảng và được phát triển qua các kỳ Đại hội tiếp theo.

Giai đoạn 1986–1995 là thời kỳ hình thành đường lối đối ngoại đổi mới, đồng thời phá thế bao vây, cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị. Trong giai đoạn này, chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại bắt đầu được xác lập, đánh dấu sự chuyển hướng trọng tâm từ chính trị – an ninh sang chính trị – kinh tế. Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với mọi quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, trên cơ sở nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình.

Giai đoạn 1996–2010 là thời kỳ mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng. Lần đầu tiên, Đảng ta nêu rõ nhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, hướng tới xây dựng nền kinh tế mở, đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đây là bước ngoặt quan trọng, đặt nền tảng cho chủ trương đối ngoại lớn, xuyên suốt của Đảng là hội nhập kinh tế quốc tế (và về sau là hội nhập quốc tế toàn diện).

Từ Đại hội IX (2001) đến Đại hội X (2006), Đảng tiếp tục bổ sung và hoàn thiện đường lối đối ngoại theo hướng độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ trương đối ngoại cũng có sự phát triển về chất, chuyển từ “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực” sang “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”, thể hiện bước tiến trong tư duy và tầm nhìn chiến lược của Đảng về đối ngoại trong thời kỳ mới.

Giai đoạn từ 2011 đến nay là thời kỳ đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, tiến tới hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Tại Đại hội XI (2011) của Đảng, lần đầu tiên chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” được xác lập, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại – chuyển trọng tâm từ hội nhập kinh tế quốc tế sang hội nhập quốc tế toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, văn hóa – xã hội.

Đến Đại hội XII (2016), Đảng tiếp tục nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của ngoại giao đa phương, coi đây là một trụ cột quan trọng trong quan hệ quốc tế hiện đại. Văn kiện Đại hội nêu rõ yêu cầu “đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đối ngoại đa phương; chủ động, tích cực tham gia, đóng góp vào việc xây dựng và định hình các thể chế đa phương”.

Tại Đại hội XIII (2021), đường lối đối ngoại tiếp tục được phát triển toàn diện và hoàn thiện về tầm nhìn chiến lược, với khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.”.

Như vậy, giai đoạn từ 2011 đến nay khẳng định bước trưởng thành mới về tầm vóc và vị thế đối ngoại của Việt Nam, từ hội nhập kinh tế khu vực đến hội nhập quốc tế toàn diện, góp phần nâng cao uy tín, vị thế và sức ảnh hưởng của đất nước trên trường quốc tế.

Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Chủ động, tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế.

1(5).jpg

Phó Thủ tướng, nguyên Bộ Trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn nhấn mạnh, chúng ta có thể tự hào rằng, trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, xung đột chính trị, Việt Nam vẫn giữ vững được cục diện đất nước. Chúng ta được sống trong hòa bình, ổn định và phát triển, đồng thời được dư luận quốc tế coi là một điểm sáng của khu vực. Các hoạt động đối ngoại được triển khai một cách rất chủ động, tích cực và đạt nhiều kết quả thực chất, tạo nên tầm vóc đối ngoại mới và tạo đà thuận lợi cho đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Từ những thành tựu nổi bật ấy, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khái quát một cách sâu sắc trong bài viết “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”: “Hội nhập quốc tế đã từng bước phát triển qua các thời kỳ, từ hội nhập có giới hạn, có chọn lọc, thiên về ý thức hệ, hội nhập kinh tế đơn thuần ban đầu đến ‘hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện’ hiện nay”.

Có thể nhận thấy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hiện thực hóa khát vọng phát triển phồn vinh của đất nước, Đảng ta đã thể hiện rõ nét đường lối đối ngoại, ngoại giao hiện đại, toàn diện, bản lĩnh, tiên phong và thống nhất xác định hội nhập quốc tế là mũi nhọn chủ công, vừa cải cách mạnh mẽ, vừa tạo đà để nâng tầm vị thế của Việt Nam trên vũ đài chính trị thế giới. Điển hình là sự ra đời của Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về “hội nhập quốc tế trong tình hình mới” đánh dấu bước ngoặt lớn trong hoạt động đối ngoại và ngoại giao của Việt Nam.

Nếu trước đó, Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 10/3/2013 của Bộ Chính trị “về hội nhập quốc tế” là “bản lề” mở đường cho Việt Nam gia nhập sân chơi quốc tế, khẳng định hội nhập kinh tế là trọng tâm thì ngày nay Nghị quyết 59-NQ/TW không chỉ kế thừa tinh thần chiến đấu quyết liệt ấy mà còn xác định hội nhập toàn diện, kinh tế vẫn là then chốt nhưng đi cùng với chính trị, quốc phòng, văn hóa, xã hội. Quan điểm và phạm vi hội nhập đã mở rộng, bổ sung thêm các lĩnh vực mới như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, môi trường.

Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 được xem là một trong “bộ tứ trụ cột” cùng với Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. Tinh thần quyết liệt ấy còn thể hiện rõ trong lời khẳng định của Tổng Bí thư rằng “Các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội đã đầy đủ, bây giờ là lúc phải hành động”.

Như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn.” Thực tiễn cho thấy, thắng lợi của ngoại giao Việt Nam luôn bắt nguồn từ sự chủ động, vững nền tảng và biết nắm thời cơ để hành động. Trong bối cảnh mới, khi thể chế dần được khơi thông và thời cơ đã chín muồi, điều cốt lõi là phải đổi mới tư duy, sẵn sàng hành động để nâng tầm Việt Nam trên kỳ đài đối ngoại, ngoại giao thế giới.

bia-03.jpg

Bản chất tư duy chiến lược của đối ngoại Việt Nam, từ truyền thống đến hiện đại, là độc lập, tự chủ, đồng thời gắn liền với tinh thần đoàn kết và hợp tác quốc tế. Trong những năm qua, hoạt động đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc gia. Tuy nhiên, nếu hoạt động đối ngoại thiếu tính chủ động, không kịp thời nắm bắt thời cơ, không phát huy vai trò tiên phong, dẫn dắt, thì Việt Nam có thể đánh mất cơ hội phát triển và đứng trước nguy cơ tụt hậu so với các quốc gia khác trên thế giới.

Nhìn tổng thể bức tranh thế giới hiện nay, có thể khẳng định đây là “thời cơ vàng” để Việt Nam tiến hành một cuộc đổi mới mạnh mẽ trong tư duy và phương thức hoạt động đối ngoại, ngoại giao, hội nhập quốc tế. Đây là lúc chúng ta cần chủ động bứt phá, không tự mãn với những thành tựu đã đạt được, tránh rơi vào tâm lý “ngủ quên trên chiến thắng”, để tiếp tục vươn tới những tầm cao mới trong sự nghiệp đối ngoại của đất nước.

6-1-.jpg

Ông Lê Hoài Trung, nguyên Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao cho biết: “Ngoại giao quốc gia sẽ đảm nhiệm những nhiệm vụ rất khó khăn nhưng cũng rất vinh dự. Tôi tin tưởng rằng ngành sẽ tiếp tục đạt được những tiến bộ và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trong giai đoạn mới này”.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Ủy viên Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội Lê Anh Tuấn cũng đồng tình rằng đây là thời điểm vàng để tập trung giải quyết các rào cản về thể chế trong hợp tác thương mại, kinh tế, đầu tư với các nước, lồng ghép các cam kết quốc tế của Việt Nam vào chính sách quốc gia.

Thông qua nghiên cứu hoạt động đối ngoại của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, nhiều chuyên gia đều nhất trí rằng đường lối chủ trương đối ngoại, ngoại giao mỗi thời kỳ đều thay đổi phụ thuộc vào sức mạnh nội sinh của dân tộc, tiềm lực kinh tế, an ninh quốc phòng cũng như bối cảnh toàn cầu, không bao giờ đứng yên mà luôn chuyển động.

Từ “Thông cáo về chính sách ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” năm 1945 với chủ trương “làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”, đường lối đối ngoại của Đảng không ngừng được kế thừa và phát triển qua các kỳ Đại hội: từ “muốn làm bạn” (Đại hội VII), “sẵn sàng làm bạn” (Đại hội VIII), đến “là bạn, đối tác tin cậy” (Đại hội IX) và “thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI). Đến Đại hội XIII, tư duy đối ngoại được nâng lên tầm mới, coi đối ngoại là lực lượng tiên phong, mở đường, giữ vững môi trường hòa bình, huy động nguồn lực bên ngoài và nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

7.jpg

Một điểm mới đáng chú ý trong quan điểm chỉ đạo chuẩn bị cho Đại hội XIV là lần đầu tiên, đối ngoại được xác định là nhiệm vụ thường xuyên và trọng yếu, bên cạnh quốc phòng và an ninh. Nếu trước đây, chỉ quốc phòng, an ninh giữ vai trò này, thì nay đối ngoại được đặt ở vị trí chiến lược, phản ánh sự chuyển biến quan trọng trong tư duy của Đảng về vai trò của ngoại giao trong bảo vệ và phát triển đất nước.

Những bước trưởng thành từ một nền đối ngoại, ngoại giao kháng chiến, kiến quốc đến nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại và phục vụ phát triển đất nước đã được minh chứng rõ nét qua từng văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng. Điều đó cho thấy rằng, ngoại giao không bao giờ đứng yên, cố thủ trong thành trì kinh nghiệm mà luôn luôn chuyển động không ngừng nhằm phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh tại các hội nghị quốc tế rằng trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng, nhiều thách thức toàn cầu mới nổi lên, “lấy tự cường là nền tảng bước vào giai đoạn mới với tư duy mới, tầm nhìn mới, động lực mới và tâm thế mới”.

Có thể thấy, tái định hướng chính sách đối ngoại là xu thế tất yếu để Việt Nam thích ứng linh hoạt, bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao vị thế quốc tế, nhất là trong bối cảnh điều chỉnh thuế quan và biến động toàn cầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định trong Đường kách mệnh: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”, tinh thần ấy cũng là cốt lõi của đổi mới tư duy đối ngoại hôm nay. Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh phương châm “kiên định nguyên tắc, linh hoạt sách lược; độc lập, tự chủ, nhưng chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng”. Đảng chính là linh hồn của công cuộc đổi mới ấy, yêu cầu đội ngũ cán bộ ngoại giao phải tiên phong trong tư duy và hành động, góp phần đưa đất nước vươn tầm trong kỷ nguyên hội nhập.

Đổi mới trong hoạt động đối ngoại, ngoại giao không có nghĩa là phủ định hoàn toàn cái cũ, mà là sự kế thừa, phát huy những giá trị bền vững của truyền thống ngoại giao Việt Nam, đồng thời bổ sung, sáng tạo và phát triển phù hợp với yêu cầu của thời đại và lợi ích quốc gia – dân tộc.

Đổi mới trong ngoại giao là một quá trình cải cách toàn diện về phương pháp và cách thức hoạt động, đồng thời là một chiến lược dài hạn, đòi hỏi sự chủ động, kiên trì, không nóng vội, nhưng cũng không chậm trễ, để không bỏ lỡ thời cơ phát triển và bảo vệ lợi ích quốc gia trong kỷ nguyên hội nhập, vươn mình ra thế giới.

Dù có nguồn “dư địa chí” khổng lồ, lợi thế “cửa ngõ”, “mặt tiền” Biển Đông, Việt Nam vẫn có nguy cơ “chậm chân” hơn so với các nước trong khu vực. Trách nhiệm của hoạt động đối ngoại, ngoại giao là phải tận dụng vị thế địa lý để phát triển mối quan hệ đối tác, mang lại lợi ích thực chất cho đất nước, tăng cường ảnh hưởng quốc tế. Như Tổng Bí thư Tô Lâm từng nêu, phải “thu hút FDI có chọn lọc tốt hơn” chứ không để bị động trở thành “cứ điểm lắp ráp”, “bãi rác công nghệ thế giới”.

Thực tiễn đã chứng minh rằng, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh toàn diện hiện nay, nếu vẫn duy trì tư duy ngoại giao cũ, thiên về “phản ứng” và đối phó thay vì chủ động “dẫn dắt” và dự báo tình hình, thì ngoại giao sẽ không còn giữ được vai trò “mũi nhọn” mà có nguy cơ trở thành lực cản của phát triển. Muốn tránh tình trạng “lạc nhịp” với thế giới, Việt Nam cần một cuộc cách mạng toàn diện trong tư duy, tổ chức và phương thức hoạt động đối ngoại, nhằm xây dựng nền đối ngoại, ngoại giao hiện đại, chuyên nghiệp, chủ động, sáng tạo và thích ứng với yêu cầu của thời đại mới.

bia-06.jpg

Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 45 (2023), Thủ tướng Phạm Minh Chính hiểu rõ sức mạnh của thời đại và từng kêu gọi “Phải có một cuộc cách mạng trong tư tưởng, trước hết là trong hoạt động đối ngoại để đáp ứng yêu cầu của thời đại.”

Nếu như trong các giai đoạn trước, ngoại giao chủ yếu là công cụ để giữ vững độc lập, chủ quyền và khẳng định vị thế quốc gia, thì trong kỷ nguyên mới, ngoại giao cần chủ động tìm kiếm cơ hội, dẫn dắt xu thế, góp phần xây dựng thương hiệu quốc gia, thu hút nguồn lực công nghệ, chất xám và các dòng đầu tư chiến lược, phục vụ cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

GS. Carlyle A. Thayer (Úc), Chuyên gia nghiên cứu Việt Nam và Đông Nam Á cho rằng: “Việt Nam đang thực hiện một cuộc đổi mới tư duy đối ngoại, ngoại giao rất rõ rệt – vừa giữ vững nguyên tắc, vừa tăng cường linh hoạt chiến lược để xử lý các mối quan hệ lớn trong thế giới cạnh tranh đa cực.” Ông cho rằng đây là “biểu hiện sống động của một nền đối ngoại, ngoại giao chủ động, bản lĩnh và bản sắc”, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam có thể trở thành hình mẫu cho các nước đang phát triển.

9(1).jpg

Ngoại giao Việt Nam cần chuyển từ “thế thủ” sang “thế công”, từ công cụ bảo vệ lợi ích sang công cụ kiến tạo phát triển, thu hút công nghệ, vốn đầu tư, chất xám và xây dựng thương hiệu quốc gia, qua đó “nâng cao uy tín và danh dự của nước mình đối với thiên hạ” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn. Thời điểm hiện nay chính là “thời cơ vàng” cho đổi mới tư duy đối ngoại, khi các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa đang hội tụ, tạo nền tảng để Việt Nam hoạch định chiến lược ngoại giao mới, tối ưu hóa lợi ích quốc gia và khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Xét về “thiên thời”, sau đại dịch Covid-19, thế giới đang bước vào một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng, với nhiều thay đổi sâu sắc về cấu trúc chính trị, kinh tế và an ninh toàn cầu. Thực tiễn cho thấy, không một quốc gia nào có thể đơn độc giải quyết các thách thức mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, khủng hoảng y tế, an ninh mạng hay đứt gãy chuỗi cung ứng. Chính bối cảnh đó đã thúc đẩy xu thế hợp tác và liên kết quốc tế trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, tạo ra thời cơ thuận lợi để Việt Nam phát huy vai trò và vị thế của mình trong quan hệ quốc tế. Năm 2025, những thách thức này sẽ tiếp tục, và Việt Nam có thể tận dụng cơ hội để thúc đẩy ngoại giao hợp tác, khẳng định vai trò trong các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, ASEAN, hay WTO.

Đồng thời, thế giới đang chứng kiến sự chuyển dịch quyền lực và ảnh hưởng từ các cường quốc truyền thống sang các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á. Các yếu tố này không chỉ liên quan đến sự thay đổi về địa chính trị, mà còn gắn liền với sự bứt phá trong công nghệ số, cách mạng công nghiệp 4.0, tiến bộ về trí tuệ nhân tạo (Al), Internet of things (IoT), công nghệ vũ trụ, chuyển mình trong cơ cấu kinh tế toàn cầu. Việt Nam, với vị trí chiến lược ở khu vực Đông Nam Á, sẽ là một phần quan trọng trong các liên minh kinh tế và an ninh khu vực, tạo cơ hội để thay đổi cách tiếp cận ngoại giao, xây dựng mối quan hệ đối tác đa phương hiệu quả hơn.

Xét về “địa lợi”, Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, một trong những khu vực có ảnh hưởng lớn trong các vấn đề toàn cầu như thương mại, an ninh, và biến đổi khí hậu. Việt Nam có lợi thế về mặt địa lý và chính trị khi là cầu nối giữa các nền kinh tế lớn của khu vực châu Á và thế giới. Trong bối cảnh các quốc gia đang tìm kiếm đối tác và củng cố quan hệ trong khu vực, Việt Nam có thể tận dụng vị trí chiến lược này để thúc đẩy các sáng kiến hợp tác và tham gia vào các dự án lớn trong khu vực và toàn cầu.

Thực tiễn Ngoại giao Việt Nam cũng đã chuyển sang thế công “chủ động mở đường”, thể hiện rõ vai trò dẫn dắt các sáng kiến khu vực, tích cực tham gia các cơ chế đa phương như trở thành chủ tịch ASEAN 2020, Ủy viên không thường trực HĐBA Liên Hợp Quốc (2020-2021) với số phiếu gần như tuyệt đối, chủ nhà APEC 2017, sắp tới đóng vai trò tổ chức Tuần lễ cấp cao APEC 2027 tại Phú Quốc.

10(1).jpg

Đại sứ Đặng Đình Quý, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao khẳng định Việt Nam đã ký kết và thực thi hơn 15 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (EVFTA, CPTPP, RCEP...), mở ra không gian kinh tế rộng lớn và linh hoạt. Đây là biểu hiện rõ của một tư duy về đối ngoại, ngoại giao gắn chặt với lợi ích phát triển quốc gia, chứ không chỉ dừng ở yếu tố chính trị - an ninh như trước.

Bên cạnh đó, với khả năng tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết như Liên minh Châu Âu (EVFTA), các quốc gia trong CPTPP, và các đối tác trong khu vực, năm 2025 là thời cơ quan trọng để Việt Nam đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, mở rộng thị trường xuất khẩu và thu hút đầu tư quốc tế.

Xét về “nhân hòa”, Chính phủ Việt Nam đã có những cải cách quan trọng trong chính sách ngoại giao, đặc biệt là từ khi gia nhập các tổ chức quốc tế lớn cũng như chính sách an sinh xã hội, chính sách kinh tế, đột phá khoa học, công nghệ. Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về “hội nhập quốc tế trong tình hình mới” đã và đang kết hợp với các Nghị quyết khác nhằm đổi mới từ cách tư duy đến hành động.

11(1).jpg

“Độ chín” trong tư duy đối ngoại của Việt Nam là kết quả của quá trình tích lũy kinh nghiệm, bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược. Lực lượng trẻ, đặc biệt là thế hệ Gen Z, với trình độ chuyên môn cao, thông thạo ngoại ngữ và tư duy toàn cầu đang trở thành động lực mới cho nền ngoại giao Việt Nam: bản lĩnh nhưng linh hoạt, kiên định mà sáng tạo.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2025, thế hệ Gen Z chiếm gần 1/3 lực lượng lao động, góp phần thúc đẩy các lĩnh vực mũi nhọn như công nghệ, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ đối ngoại. Cùng với đó, sự lớn mạnh của cộng đồng kiều bào trên thế giới thể hiện thành quả của một nền ngoại giao nhân văn, hòa hiếu và hướng tới tương lai, nơi mọi người Việt đều chung khát vọng dựng xây đất nước hùng cường.

12.jpg

Có thể nói, nếu nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của đổi mới tư duy đối ngoại, gắn đổi mới với tầm nhìn chiến lược thời đại thì đây là thời cơ vàng để Việt Nam bứt phá. Tư duy đúng làm nên chính sách đúng, và chính sách đúng tạo nên vị thế quốc gia. Trong bối cảnh thế giới tái cấu trúc mạnh mẽ về chuỗi cung ứng, thị trường, công nghệ và tri thức, Việt Nam cần một cuộc cách mạng toàn diện trong tư duy đối ngoại, đặt ngoại giao vào vai trò tiên phong, mở đường cho phát triển. Đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng chính là chìa khóa để Việt Nam chủ động hội nhập, khẳng định bản lĩnh và vị thế giữa dòng chảy toàn cầu hóa.

Thực hiện: Thượng úy Nguyễn Nhật Anh - Thượng úy Nguyễn Thị Khánh Hà - Nhà báo Nguyễn Phi Hùng
Ảnh: Báo Công lý - Chinhphu.vn - Mofa.gov.vn

PV 25/10/2025 - 07:30
(0) Bình luận
Nổi bật
Bài 1: Tư duy lớn mở đường cho khát vọng vươn mình