TAND tỉnh Đắk Lắk đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong xét xử, góp phần nâng cao hiệu quả tố tụng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Tòa án nhân dân (13/9/1945 - 13/9/2026), phóng viên Báo Công lý có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Chung, Bí thư Đảng ủy, Chánh án TAND tỉnh Đắk Lắk về công tác chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính tư pháp và triển khai xét xử trực tuyến sau khi địa phương sáp nhập.

PV: Thưa Chánh án, thời gian qua TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk đã ứng dụng công nghệ số vào hoạt động xét xử và hành chính tư pháp như thế nào?
Chánh án Nguyễn Văn Chung: Thực hiện chỉ đạo của Chánh án TANDTC, TAND tỉnh Đắk Lắk xác định chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, liên tục và lâu dài.
Sau khi sáp nhập, TAND tỉnh đã ban hành Quyết định số 551/QĐ-TA ngày 25/7/2025 thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong TAND hai cấp; Kế hoạch số 552/KH-TA ngày 30/7/2025 về chuyển đổi số thời kỳ sau sáp nhập và Chương trình số 589/TA-BCĐ ngày 4/8/2025 về thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số.

Một trong những nội dung được chú trọng là thu thập thông tin căn cước của đương sự trong các vụ án để cập nhật lên hệ thống quản lý án; đồng thời bảo đảm dữ liệu theo yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, phục vụ kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia.
Trong công tác hành chính, 100% công chức xử lý văn bản đi, đến trên môi trường điện tử, trừ văn bản mật. Việc sử dụng văn bản điện tử, chữ ký số giúp văn bản được luân chuyển nhanh, đúng quy trình, giảm in ấn, phát hành giấy tờ, đồng thời nâng cao tính công khai, minh bạch và hiệu quả quản lý.
Tòa án cũng sử dụng các nền tảng số để trao đổi, chỉ đạo công việc phù hợp với từng đơn vị. Qua đó, nhiều công việc được xử lý nhanh hơn, giảm các cuộc họp không cần thiết và nâng cao hiệu quả phối hợp.

PV: Đắk Lắk sau sáp nhập có địa bàn rất rộng. Việc đẩy mạnh xét xử trực tuyến có ý nghĩa như thế nào đối với người dân, thưa ông?
Chánh án Nguyễn Văn Chung: Đây là một trong những nhiệm vụ chúng tôi đặc biệt quan tâm.
Sau sáp nhập, địa bàn tỉnh mở rộng, khoảng cách giữa các khu vực rất lớn. Từ trung tâm Buôn Ma Thuột đến Tuy Hòa gần 200 km; trong khi các xã vùng sâu vùng xa như xã Phú Mỡ, xã Ia R’vê còn cách trở, đi lại khó khăn. Điều này khiến người dân phải mất nhiều thời gian, chi phí để đến Tòa án tham gia tố tụng, ảnh hưởng không nhỏ đến công việc và cuộc sống của họ.
Trong điều kiện đó, việc ứng dụng công nghệ để tổ chức xét xử trực tuyến, kết nối các điểm cầu khu vực có ý nghĩa thiết thực. Khi đủ điều kiện theo quy định, người tham gia tố tụng có thể tham dự phiên tòa tại điểm cầu phù hợp, hạn chế việc phải di chuyển quãng đường dài đến trụ sở Tòa án.
Điều quan trọng là xét xử trực tuyến không có nghĩa làm giảm chất lượng xét xử. Ngược lại, nếu được chuẩn bị tốt về cơ sở vật chất, đường truyền, dữ liệu và con người, hình thức này vẫn bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời giúp Tòa án sử dụng hiệu quả nguồn lực.

Chúng tôi đang tăng cường kết nối các điểm cầu khu vực, từng bước mở rộng việc xét xử trực tuyến đối với những vụ án, vụ việc đủ điều kiện. Mục tiêu là vừa nâng cao hiệu quả công việc của Tòa án, vừa giảm tối đa thời gian và chi phí đi lại cho người dân.
PV: Cùng với xét xử trực tuyến, việc cắt giảm thủ tục hành chính tư pháp được TAND tỉnh triển khai ra sao?
Chánh án Nguyễn Văn Chung: TAND tỉnh đang vận hành mô hình hành chính tư pháp theo cơ chế một cửa, với Văn phòng là đầu mối hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ của công dân, cơ quan, tổ chức và chuyển đến các đơn vị có thẩm quyền giải quyết; đồng thời tiếp nhận, trả kết quả theo quy định.

Các thủ tục gồm tiếp nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; hồ sơ kháng cáo, kháng nghị; cấp sao lục, trích lục bản án, quyết định; tiếp nhận tài liệu, chứng cứ và các yêu cầu khác thuộc thẩm quyền.
Bộ phận hành chính tư pháp được bố trí nhân sự có chuyên môn, kỹ năng giao tiếp và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin nhằm hướng dẫn người dân ngay từ khâu đầu, hạn chế việc phải đi lại nhiều lần do thiếu hoặc sai hồ sơ.
Cùng với đó, Tòa án đẩy mạnh trao đổi, xử lý văn bản trên môi trường điện tử và cung cấp dịch vụ tư pháp công trực tuyến. Hiện các TAND khu vực đã triển khai dịch vụ thu, nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án trên Cổng dịch vụ công quốc gia.
PV: Công tác công khai bản án, quyết định và cung cấp dịch vụ công trực tuyến đạt kết quả thế nào?
Chánh án Nguyễn Văn Chung: Lãnh đạo TAND tỉnh thường xuyên quán triệt Thẩm phán thực hiện nghiêm Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về công bố bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử TAND.
Trong thời kỳ báo cáo, TAND hai cấp tỉnh đã công bố 3.074/3.074 bản án, quyết định đủ điều kiện công bố, đạt tỷ lệ 100%.

Tuy nhiên, việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến vẫn còn một số khó khăn. Một bộ phận người dân, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng xa, còn hạn chế về kỹ năng số nên việc tiếp cận, sử dụng các nền tảng trực tuyến chưa cao.
Đây là vấn đề cần từng bước khắc phục. Tòa án không chỉ đưa dịch vụ lên môi trường số mà còn phải hướng dẫn để người dân có thể sử dụng được, qua đó chuyển đổi số thực sự mang lại lợi ích cho người dân.
PV: Những khó khăn lớn nhất trong quá trình chuyển đổi số của TAND hai cấp hiện nay là gì và hướng khắc phục ra sao, thưa ông?
Chánh án Nguyễn Văn Chung: Khó khăn trước hết là hạ tầng công nghệ thông tin ở một số nơi chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, đôi lúc xảy ra lỗi kỹ thuật, ảnh hưởng đến tiến độ xử lý công việc.

Bên cạnh đó, sau sáp nhập, TAND hai cấp vừa phải thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, vừa triển khai chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và công tác Đảng, trong khi nhân lực, trang thiết bị, kinh phí còn hạn chế. Một số công chức cũng cần tiếp tục nâng cao kỹ năng ứng dụng công nghệ số.
Thời gian tới, TAND tỉnh sẽ tiếp tục đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành theo phương châm “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền; tăng cường kiểm tra, đôn đốc và phân cấp, phân quyền phù hợp.
Chúng tôi cũng tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Bình dân học vụ số”, nâng cao kỹ năng số cho đội ngũ công chức, đồng thời tăng cường số hóa hồ sơ, ứng dụng công nghệ trong quản lý án, xét xử và hành chính tư pháp.
Mục tiêu cuối cùng của chuyển đổi số trong Tòa án là phục vụ tốt hơn hoạt động xét xử và người dân. Đặc biệt với một tỉnh có địa bàn rộng sau sáp nhập như Đắk Lắk, mỗi thủ tục được thực hiện nhanh hơn, mỗi phiên tòa trực tuyến phù hợp được triển khai sẽ góp phần giảm thời gian, chi phí đi lại, tạo thuận lợi cho người dân nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu về chất lượng, trình tự và hiệu quả xét xử.
Xin chân thành cảm ơn ông !