Giữa những bản làng miền Tây Nghệ An, hành trình thoát nghèo đang được bắt đầu từ những điều thiết thực: Một việc làm ổn định, một nghề truyền thống được hồi sinh, một sinh kế được gây dựng ngay trên quê hương.
Từ Huồi Tụ đến Môn Sơn, những cách làm khác nhau đang cùng hướng tới mục tiêu giúp người dân có thêm cơ hội vươn lên và không để ai bị bỏ lại phía sau.
Cách trung tâm tỉnh Nghệ An gần 300km, Huồi Tụ nằm giữa những dãy núi nối tiếp của miền Tây xứ Nghệ. Quốc lộ 16 chạy qua địa bàn đã mở thêm cánh cửa giao thương, kết nối những bản làng với bên ngoài, nhưng phía sau những cung đường ấy, cuộc sống của phần đông người dân vẫn gắn chặt với nương rẫy và còn nhiều khó khăn.
Huồi Tụ có diện tích tự nhiên hơn 11.113ha, với 1.041 hộ, 5.186 nhân khẩu. Sau sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp thôn, bản, từ 13 bản trước đây, toàn xã hiện còn 8 bản. Đồng bào Thái, Khơ Mú, Mông và Kinh cùng sinh sống đan xen, tạo nên bức tranh văn hóa đa dạng giữa vùng cao.
Sinh kế của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, buôn bán nhỏ. Khi nguồn việc làm tại chỗ còn hạn chế, nhiều lao động trẻ lựa chọn rời quê đến các khu công nghiệp, doanh nghiệp ở những tỉnh, thành khác để tìm kiếm thu nhập. Bởi vậy, phía sau sự đổi thay từng ngày của những bản làng vẫn là nỗi trăn trở về việc làm và giảm nghèo bền vững.

Hiện tỷ lệ hộ nghèo của Huồi Tụ còn 54,7%, hộ cận nghèo chiếm 24,6%. Đây không đơn thuần là những con số, mà phản ánh những khó khăn đang hiện hữu trong nhiều gia đình khi nguồn thu nhập chưa ổn định, sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên.
Năm 2025, thiên tai, hạn hán cùng ảnh hưởng của các cơn bão số 3, số 5 khiến nhiều tuyến đường bị sạt lở, nhà cửa, hoa màu của người dân bị ảnh hưởng. Với những hộ gia đình vốn chỉ trông vào vài mảnh nương, mỗi trận mưa lớn hay đợt hạn kéo dài đều có thể làm sinh kế thêm chật vật.
Bước sang năm 2026, Huồi Tụ lại đứng trước những yêu cầu mới khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đội ngũ cán bộ xã còn mỏng, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc chưa đồng bộ, trong khi khối lượng công việc liên quan trực tiếp đến quyền lợi, đời sống của người dân ngày càng lớn.
Trong bối cảnh ấy, câu chuyện giải quyết việc làm được địa phương xác định là một trong những “chìa khóa” để mở cánh cửa giảm nghèo.
Theo kết quả rà soát đến ngày 31/5/2026, Huồi Tụ có 1.394 lao động. Trong số 1.049 người đang làm việc trong nước, chỉ 63 lao động làm việc trong tỉnh, còn 986 người làm việc ngoài tỉnh.
Như vậy, gần 94% số lao động có việc làm trong nước đang làm việc ngoài Nghệ An, phần lớn là lao động phổ thông tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp ở phía Bắc và phía Nam.
Những con số ấy cho thấy một thực tế: người dân vùng cao không thiếu khát vọng làm ăn, nhưng cơ hội việc làm ngay trên quê hương vẫn còn hạn chế. Khi nương rẫy chưa thể tạo nguồn thu ổn định, nhiều người trẻ phải rời bản để tìm kiếm một công việc có thu nhập tốt hơn.
Áp lực giải quyết việc làm vẫn khá lớn khi toàn xã còn 346 lao động thất nghiệp có nhu cầu tìm việc, chiếm 24,82% tổng số lao động. Nhu cầu tập trung nhiều tại bản Huồi Đun với 70 người, bản Trung Tâm 50 người và Huồi Thắng 36 người.
Với đặc thù là xã vùng cao, đồng bào dân tộc Mông chiếm đa số, khó khăn không chỉ nằm ở số lượng việc làm. Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề của một bộ phận lao động còn hạn chế, khả năng tiếp cận thông tin thị trường lao động chưa cao. Điều đó khiến nhiều người chỉ có thể lựa chọn những công việc phổ thông, thu nhập và tính ổn định chưa cao.
Để từng bước tháo gỡ nút thắt này, chính quyền xã tăng cường đưa thông tin, chính sách đến tận bản. Những nội dung về việc làm, giảm nghèo, bảo hiểm y tế, cải cách hành chính, chuyển đổi số, phòng chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống được tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh, các cuộc họp dân và hoạt động trực tiếp tại cộng đồng.
Song hành với bài toán sinh kế là việc bảo đảm an sinh cho những người yếu thế. Chính quyền xã phối hợp với MTTQ, các đoàn thể, nhà trường, trạm y tế, lực lượng Công an triển khai nhiều hoạt động chăm sóc trẻ em, người cao tuổi và phụ nữ; tổ chức khám sàng lọc sức khỏe, tiêm chủng, bổ sung vitamin cho trẻ em và thực hiện các chế độ chính sách theo quy định.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Huồi Tụ đã tiếp nhận, hướng dẫn, giải quyết 40 hồ sơ bảo trợ xã hội cho trẻ dưới 3 tuổi, 12 hồ sơ người cao tuổi, một hồ sơ trẻ mồ côi và 7 hồ sơ mai táng phí.
Địa phương cũng hoàn thiện hồ sơ đề nghị tiếp nhận hai trẻ mồ côi vào Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Nghệ An để các em có điều kiện được chăm sóc, nuôi dưỡng lâu dài.
Theo ông Dềnh Bá Lồng, Chủ tịch UBND xã Huồi Tụ, điều địa phương trăn trở hiện nay là tỷ lệ hộ nghèo còn cao, trong khi khả năng tạo việc làm tại chỗ chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân.
Vì vậy, bên cạnh thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh, xã đang chú trọng kết nối thông tin tuyển dụng, định hướng học nghề, giúp người lao động tiếp cận những cơ hội việc làm phù hợp.
“Về lâu dài, địa phương mong muốn khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế sẵn có, từng bước tạo thêm sinh kế tại chỗ. Khi người dân có việc làm, có thu nhập ổn định thì mới có điều kiện vươn lên, giảm nghèo một cách bền vững”, ông Lồng chia sẻ.
Rời Huồi Tụ, câu chuyện về sinh kế ở Môn Sơn lại mang một sắc màu khác. Nằm cách trung tâm tỉnh Nghệ An khoảng 130km, Môn Sơn là xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với diện tích tự nhiên hơn 529km², dân số 18.836 người, phân bố tại 13 bản.

Địa hình rộng, giao thông một số khu vực còn khó khăn, trình độ dân trí chưa đồng đều khiến hành trình phát triển kinh tế của địa phương đối mặt với không ít trở ngại.
Đời sống người dân chủ yếu dựa vào nông - lâm nghiệp, chăn nuôi và buôn bán nhỏ. Toàn xã còn 638 hộ nghèo, chiếm 15,35%; phần lớn các hộ nghèo thiếu lao động, thiếu đất sản xuất nên khả năng tạo nguồn thu nhập ổn định còn hạn chế.
Thay vì chỉ xem việc đưa lao động ra ngoài địa phương là lời giải duy nhất, Môn Sơn đang từng bước đi bằng “hai chân”: kết nối người lao động với thị trường việc làm bên ngoài, đồng thời khai thác những lợi thế văn hóa, cảnh quan để tạo thêm sinh kế ngay tại quê nhà.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn xã giải quyết việc làm mới cho 860 lao động. Trong đó, 50 người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng, 810 người làm việc tại các khu công nghiệp trong và ngoài tỉnh. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 47%, trong khi số người thất nghiệp có nhu cầu giải quyết việc làm còn 138 người.
Đáng chú ý, thông tin việc làm giờ đây không còn chỉ nằm trên những văn bản hành chính. Từ hệ thống truyền thanh cơ sở đến các nhóm Zalo, Facebook, Fanpage, từ cuộc họp bản đến sinh hoạt chi hội, chi đoàn, thông tin tuyển dụng, học nghề, xuất khẩu lao động và các phiên giao dịch việc làm được chuyển tải trực tiếp đến người dân. Nhờ đó, 100% bản trên địa bàn được tiếp cận thông tin về việc làm, tuyển dụng và các chính sách hỗ trợ liên quan.
Cùng với đưa người lao động đến gần hơn với thị trường việc làm, Môn Sơn đang tìm cách biến những giá trị tưởng như rất quen thuộc của bản làng thành nguồn lực phát triển. Một trong những lát cắt rõ nét nhất có thể thấy ở bản Xiềng, nơi nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Bên những khung cửi, những sợi chỉ qua đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Thái dần thành khăn, túi, trang phục và đồ lưu niệm. Nghề dệt không chỉ lưu giữ những hoa văn, sắc màu truyền thống mà đang từng bước tạo thêm việc làm, thu nhập cho các hộ gia đình, nhất là phụ nữ.
Từ hoạt động mang tính gia đình, nghề dệt thổ cẩm đang được tổ chức theo hướng tổ hợp tác, hợp tác xã. Sản phẩm cũng dần đa dạng hơn để đáp ứng nhu cầu của du khách. Khi một tấm thổ cẩm được bán ra, người dân không chỉ có thêm thu nhập mà còn đưa một phần văn hóa của bản làng đến với du khách.
Đặc biệt, nghề truyền thống đang tìm thấy một không gian phát triển mới khi Môn Sơn đẩy mạnh du lịch cộng đồng. Bản Xiềng với những nếp nhà sàn, văn hóa ẩm thực, dân ca, dân vũ cùng cảnh quan thiên nhiên được kết nối với Vườn quốc gia Pù Mát, sông Giăng, Pha Lài để hình thành những sản phẩm trải nghiệm mang đậm dấu ấn miền Tây xứ Nghệ.
Người dân có thể làm homestay, phục vụ ẩm thực, giới thiệu văn hóa bản địa, tham gia các hoạt động trải nghiệm, du thuyền, hướng dẫn tham quan và bán sản phẩm địa phương. Từ đó, một chuỗi sinh kế dần được hình thành ngay trong cộng đồng.
Điều đáng nói là hai hướng đi tưởng như riêng biệt lại đang bổ trợ cho nhau. Thổ cẩm tạo ra sản phẩm đặc trưng phục vụ khách du lịch, còn du lịch đưa khách hàng đến gần hơn với những sản phẩm được làm ra từ bàn tay người dân. Văn hóa nhờ đó không chỉ được gìn giữ mà còn có thể tạo ra giá trị kinh tế.
Dẫu vậy, con đường biến lợi thế thành sinh kế bền vững vẫn còn nhiều việc phải làm. Quy mô các mô hình còn nhỏ, chất lượng dịch vụ chưa đồng đều, hạ tầng phục vụ du lịch và công tác quảng bá còn hạn chế.
Người dân cần được đào tạo thêm về kỹ năng phục vụ, xây dựng sản phẩm, quảng bá trên nền tảng số để thích ứng với nhu cầu ngày càng cao của du khách.
Theo ông Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND xã Môn Sơn, giải quyết việc làm không chỉ dừng lại ở việc kết nối người lao động với doanh nghiệp, khu công nghiệp mà cần tạo thêm những sinh kế bền vững ngay tại địa phương.
Môn Sơn có lợi thế về cảnh quan, văn hóa truyền thống và nguồn tài nguyên bản địa, vì vậy việc khai thác hiệu quả những giá trị này sẽ mở thêm cơ hội cho người dân.
“Địa phương xác định tiếp tục gắn bảo tồn bản sắc văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng, duy trì nghề truyền thống, nâng cao kỹ năng cho người dân và tăng cường ứng dụng chuyển đổi số trong quảng bá.
Mục tiêu cuối cùng vẫn là tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập để người dân có thể vươn lên từ chính tiềm năng của quê hương”, ông Hùng cho biết.
Từ Huồi Tụ đến Môn Sơn, mỗi địa phương đang đứng trước những điều kiện và bài toán phát triển khác nhau. Một nơi còn hàng trăm lao động mong tìm được việc làm, phần lớn người có việc phải rời tỉnh; một nơi đang từng bước đưa thổ cẩm, nhà sàn, cảnh sắc núi rừng trở thành sản phẩm tạo sinh kế. Nhưng ở cả hai nơi, điểm gặp nhau vẫn là nỗ lực đưa cơ hội đến gần hơn với người dân.
Bởi phía sau mỗi con số về hộ nghèo hay lao động chưa có việc làm là cuộc sống của một gia đình. Phía sau một người trẻ tìm được việc là thêm một nguồn thu cho cha mẹ nơi bản xa; phía sau một khung cửi còn đỏ lửa là một nghề truyền thống được giữ lại; phía sau một homestay đón khách là cơ hội để người dân sống được bằng những giá trị vốn có của quê hương.

Với những xã miền núi miền Tây Nghệ An, giảm nghèo vì thế không chỉ là làm cho một con số nhỏ đi sau mỗi kỳ rà soát. Điều quan trọng hơn là tạo cho người dân khả năng tự đứng vững bằng việc làm, nghề nghiệp và sinh kế lâu dài.
Khi cơ hội việc làm có thể tìm đến tận bản, khi nghề truyền thống có thêm thị trường và cảnh sắc núi rừng trở thành nguồn lực phát triển, hành trình giảm nghèo sẽ không còn chỉ là câu chuyện của những chính sách hỗ trợ.
Đó sẽ là hành trình người dân từng bước tự tạo dựng tương lai trên chính mảnh đất mình sinh ra, để những bản làng giữa đại ngàn không chỉ là nơi để trở về, mà còn là nơi có thể dựng xây một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.