Nghị định số 164/2026/NĐ-CP của Chính phủ vừa ban hành quy định nhiều điểm mới về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Đáng chú ý, từ ngày 1/7/2026, người giữ chức vụ từ Trưởng phòng và tương đương có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên phải kê khai tài sản hằng năm; nhiều loại tài sản, tài khoản và khoản nợ có giá trị từ 150 triệu đồng cũng thuộc diện kê khai bắt buộc.
Nhiều loại tài sản giá trị từ 150 triệu đồng phải kê khai
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 164/2026/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Nghị định gồm 9 chương, 42 điều, quy định chi tiết một số nội dung của Luật Phòng, chống tham nhũng liên quan đến kiểm soát tài sản, thu nhập.

Theo Nghị định, việc kiểm soát tài sản, thu nhập bao gồm các nội dung như: trình tự, thủ tục yêu cầu và cung cấp thông tin; kê khai và công khai bản kê khai tài sản, thu nhập; xây dựng kế hoạch xác minh; quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập; cũng như xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện.
Nghị định quy định tài sản, thu nhập phải kê khai là tài sản của người có nghĩa vụ kê khai, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên.
Các loại tài sản thuộc diện kê khai gồm quyền sử dụng đất; nhà ở, công trình xây dựng; tài sản khác gắn liền với đất; vàng, kim cương, bạch kim và các kim khí quý, đá quý khác có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên.
Ngoài ra, các khoản tiền mặt, tiền gửi, tiền cho vay, tiền trả trước bằng tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ có tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên cũng phải kê khai. Cổ phiếu, trái phiếu, phần vốn góp và các loại giấy tờ có giá khác từ 150 triệu đồng trở lên cũng thuộc diện kiểm soát.
Đáng chú ý, Nghị định bổ sung quy định kê khai đối với tài sản số và các loại tài sản khác có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; các khoản nợ có giá trị từ 150 triệu đồng; tài sản và tài khoản ở nước ngoài; cùng tổng thu nhập giữa hai lần kê khai.
Việc kê khai lần đầu, kê khai hằng năm, kê khai bổ sung hoặc kê khai phục vụ công tác cán bộ sẽ thực hiện theo mẫu ban hành kèm theo Nghị định.
Nghị định cũng cho phép thực hiện kê khai trên môi trường điện tử khi đáp ứng điều kiện về hạ tầng công nghệ và cơ sở vật chất nhằm thuận lợi cho việc quản lý, lưu trữ và kiểm soát dữ liệu.
Người giữ chức vụ từ Trưởng phòng phải kê khai hằng năm
Theo quy định mới, người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập hằng năm bao gồm người giữ chức vụ từ Trưởng phòng và tương đương có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên tại các cơ quan nhà nước.
Tại doanh nghiệp nhà nước, đối tượng kê khai hằng năm là Trưởng phòng và tương đương trở lên trực tiếp phụ trách công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc thường xuyên tiếp xúc, giải quyết công việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Bên cạnh đó, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập hằng năm.
Nghị định đồng thời quy định rõ việc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người kê khai công tác.
Theo đó, bản kê khai của người giữ chức vụ từ Phó Tổng cục trưởng và tương đương trở lên tại cơ quan trung ương sẽ được niêm yết tại trụ sở bộ, cơ quan ngang bộ hoặc công khai tại các cuộc họp có thành phần lãnh đạo cấp cục, vụ và tương đương.
Đối với người giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống, bản kê khai được niêm yết tại đơn vị hoặc công khai tại cuộc họp gồm lãnh đạo cấp phòng trở lên. Các trường hợp khác sẽ được công khai trước toàn thể công chức, viên chức của phòng, ban, đơn vị.
Tại địa phương, bản kê khai của Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và UBND cấp tỉnh sẽ được niêm yết tại trụ sở hoặc công khai tại cuộc họp của cơ quan liên quan. Đối với cán bộ, công chức cấp xã, bản kê khai được niêm yết tại trụ sở HĐND, UBND cấp xã hoặc công khai tại cuộc họp cơ quan nơi người đó công tác.
Theo Nghị định, bản kê khai phải được công khai chậm nhất sau 5 ngày làm việc kể từ khi bàn giao cho cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập. Thời gian niêm yết tối thiểu là 15 ngày.
Nghị định số 164/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Đồng thời, Nghị định số 130/2020/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập sẽ hết hiệu lực kể từ thời điểm Nghị định mới có hiệu lực.