Hướng tới mốc son lịch sử 50 năm thành lập Tòa án nhân dân hai cấp TP.HCM (10/8/1976 – 10/8/2026), Báo Công lý thực hiện loạt bài nhìn lại nửa thế kỷ cống hiến của đơn vị. Thành lập trong hoàn cảnh thiếu thốn về lực lượng, cơ sở vật chất và quy định pháp luật, Tòa án nhân dân hai cấp TP.HCM đã nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đóng góp tích cực vào việc hoàn thiện thể chế và tạo bệ đỡ tư pháp vững chắc cho sự phát triển của đất nước.

Bài 1: Sứ mệnh lịch sử và bản lĩnh những ngày đầu thành lập
Sau ngày 30/4/1975, lịch sử dân tộc bước sang trang mới, Sài Gòn – Gia Định bước vào một giai đoạn tiếp quản đặc biệt phức tạp. Bên cạnh đó là một thực tại xã hội vô cùng bộn bề, ngổn ngang, tàn dư của chế độ cũ, làn sóng tội phạm hình sự gia tăng.
Ngày 10/8/1976, Chánh án TANDTC ban hành Quyết định số 08/TATC thành lập TAND hai cấp TP.HCM. Từ đây, Tòa án thành phố gánh vác sứ mệnh làm công cụ sắc bén bảo vệ chính quyền nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội.
Từ người chiến sĩ áo vải đến người cầm cân nảy mực
Những ngày đầu sau giải phóng, việc tiếp quản cơ sở vật chất từ chế độ cũ đặt ra những bài toán vô cùng nan giải. Trụ sở TAND TP.HCM được đặt tại "Tối cao Pháp viện" xưa (nay là số 131 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Thành, TP.HCM) – công trình do kiến trúc sư người Pháp Bourard thiết kế từ năm 1881, sau này trở thành Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.
Người đặt viên gạch đầu tiên cho nền móng tư pháp thành phố là ông Nguyễn Thành Vĩnh, nguyên Chánh án TAND TP. Hà Nội, một người con của quê hương Mỹ Tho được Trung ương điều động về làm Chánh án đầu tiên của TAND TP.HCM.
Sát cánh cùng ông là các lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm như ông Hoàng Vĩnh Thạnh (Thẩm phán TANDTC làm Phó Chánh án) và các cán bộ hoạt động cách mạng lâu năm tại chiến trường miền Nam như: bà Trương Thị Huệ, bà Huỳnh Thị Khanh...

Khó khăn bủa vây từ những điều nhỏ nhất như: trang thiết bị thiếu thốn, giấy viết án không có đủ. Cán bộ văn phòng và Thẩm phán phải xuống tận hầm kho, tận dụng mặt sau của những tờ trích lục cũ, những tờ giấy in một mặt của chế độ trước để làm giấy viết bản án.
Khi Thẩm phán tuyên án, người bên dưới nhìn lên vẫn thấy thấp thoáng những dòng chữ in ngược của chế độ cũ hằn qua trang giấy. Những bản án viết tay bằng mực đen trong căn phòng nóng như lò nung giữa mùa hè phương Nam là minh chứng sống động cho một giai đoạn vượt khó phi thường.
Cùng với sự thiếu thốn về cơ sở vật chất, TAND TP.HCM còn phải đối mặt với đội ngũ nhân sự rất mỏng. TAND TP.HCM chỉ có vỏn vẹn 7 Thẩm phán; 12 TAND cấp quận, huyện (mỗi đơn vị bình quân chỉ có từ 2 - 3 Thẩm phán) mà gánh vác lượng hồ sơ khổng lồ của một đô thị triệu dân.
Họ là những cán bộ hoạt động cách mạng tại miền Nam, những chiến sĩ từ chiến trường miền Bắc chi viện, hoặc những người từ chiến khu, từ nhà tù thực dân trở về.
Nhiều người trong số họ là bộ đội chuyển ngành, xuất thân từ các đơn vị pháo binh, tên lửa, chưa từng được đào tạo chuyên sâu về luật học.

Ông Lê Thúc Anh, nguyên Phó Chánh án TANDTC, nguyên Chánh án TAND TP.HCM chia sẻ: "Để đáp ứng nhiệm vụ chính trị, cán bộ Tòa án vào các lớp "Lưu huấn" (luân huấn) đặc biệt: ban ngày xử án, ban đêm cắp sách đi học, hoặc 6 tháng đi học tập trung, 6 tháng về trực tiếp xét xử để vừa tích lũy thực tế, vừa hoàn thiện bằng cử nhân luật.
Họ cũng tự trau dồi nghiệp vụ bằng cách nghiên cứu tỉ mỉ các tập tổng kết công tác xét xử hàng năm của TANDTC đúc kết – xem đó như "cuốn sách gối đầu giường" có giá trị áp dụng như án lệ.
Con người lúc đó từ bộ đội sang như tôi – vốn là lính Tên lửa Phòng không, kiến thức pháp luật chưa có nhiều, văn bản luật lại khái quát. Tôi học từ các bậc tiền bối đi trước. Bác Vĩnh, bác Thạnh tận tình chỉ dẫn từng chút. Nội bộ lúc đó rất đoàn kết, chí công vô tư" - nguyên Phó Chánh án TANDTC, nguyên Chánh án TAND TP.HCM Lê Thúc Anh nhớ về điểm xuất phát đầy bản lĩnh của thế hệ mình.
Lá chắn thép trấn áp tội phạm và giữ nghiêm kỷ cương
Trong giai đoạn này, TAND TP.HCM giữ vai trò là lá chắn thép bảo vệ an ninh trật tự xã hội. Hệ thống luật pháp khi đó còn rất sơ khai, chủ yếu vận dụng Sắc luật của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam với những quy định mang tính nguyên tắc chung.
Thế nhưng, các Thẩm phán thành phố đã đưa ra những phán quyết nghiêm minh, kịp thời đập tan các âm mưu phá hoại kinh tế, đầu cơ tích trữ và bạo loạn chính trị.
Mặt trận nóng bỏng nhất lúc bấy giờ là đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng lợi dụng tôn giáo và sự biến động xã hội để lôi kéo lực lượng, mưu đồ lật đổ chính quyền. TAND TP.HCM đã liên tục đưa ra ánh sáng các vụ án lớn, điển hình là vụ án tổ chức phản động tại Nhà thờ Vinh Sơn, vụ Lê Đình Nhàn và đồng phạm "Tuyên truyền phản cách mạng", vụ Nguyễn Văn Mãnh, Huỳnh Quang Minh "Âm mưu lật đổ chính quyền", vụ Quách Phước Liệt và đồng phạm "Hoạt động gián điệp", hay vụ án Trần Đình Thủ và đồng phạm.
Nhớ lại phiên tòa xét xử Trần Đình Thủ, ông Lê Thúc Anh nói: “Đó là một vụ án cực kỳ phức tạp và căng thẳng do liên quan đến yếu tố tôn giáo và đám đông. Tại tòa, các bị cáo đồng loạt phản cung, phủ nhận toàn bộ lời khai tại Cơ quan điều tra và cho rằng bị ép cung.
Bằng bản lĩnh và sự chuẩn bị phương án sắc bén, tôi đã đối chiếu từng bút lục, chứng minh tính tự nguyện trong các bản tự khai không có đòn roi tra tấn. Sự thật khách quan được phơi bày, buộc các bị cáo phải cúi đầu nhận tội. Những bản án đúng người, đúng tội không chỉ giúp ổn định tình hình an ninh, trật tự mà còn có tính giáo dục, răn đe và tuyên truyền pháp luật sâu sắc”.

Bên cạnh tội phạm chính trị, tội phạm kinh tế như đầu cơ tích trữ, buôn lậu, lũng đoạn thị trường và làm tiền giả cũng diễn ra tinh vi. Tòa án đã xét xử nghiêm khắc các băng nhóm "đầu cơ", các đường dây buôn lậu xuyên quốc gia, giúp bình ổn giá cả.
Những phiên tòa lưu động được tổ chức ngay tại bãi đất trống, nhà máy hay bệnh viện (như vụ án tráo thuốc chữa lao viện trợ của Hà Lan bằng thuốc giả tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch) thu hút hàng trăm người dân tham gia.
Tiếng loa phóng thanh của phiên tòa lưu động vang lên khắp nơi không chỉ là tiếng nói của công lý trừng trị kẻ phạm tội, mà còn giúp người dân hiểu, tin và đồng tình.
"Những năm đầu sau giải phóng còn quá nhiều biến động và phức tạp, chính bản lĩnh kiên định, sự thận trọng và cái tâm của người làm công tác xét xử đã trở thành điểm tựa vững chắc cho chính quyền non trẻ.
Mỗi bản án được tuyên không chỉ để trừng trị, mà là để thu phục nhân tâm, giữ yên lòng dân và khẳng định tính ưu việt của nền tư pháp cách mạng”, nguyên Chánh án TAND TP.HCM đã đúc kết về sự đóng góp thầm lặng của đội ngũ cán bộ Tòa án thời kỳ đầu.
Cán bộ Tòa án dù đối mặt với không ít hiểm nguy, thậm chí nhà riêng của Thẩm phán bị ném đá khủng bố giữa đêm khuya hay kẻ xấu bám theo sau phiên xử, nhưng những người cầm cân nảy mực vẫn kiên cường đứng vững.
Bằng sự cố gắng vượt bậc, vượt qua những thiếu thốn về cả vật chất lẫn kinh nghiệm pháp lý, tập thể TAND hai cấp TP.HCM đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử, tạo tiền đề vững chắc cho một thành phố ổn định, chuẩn bị bước vào giai đoạn đổi mới.
"Tiền bồi dưỡng cho mỗi phiên tòa ngày ấy vỏn vẹn chỉ có 6 hào. Thế nhưng, nhờ có cô Tám, người phụ trách bếp ăn của Tòa khéo léo đi chợ mua tôm về nấu hủ tiếu, vì thời đó thịt đắt hơn tôm rất nhiều. Trước giờ vào xử, các vị Hội thẩm lại quây quần bên bát hủ tiếu nóng hổi, ly cà phê và ngô rang. Sáng ra chưa ai kịp ăn gì, phần ăn sáng không chỉ giúp những người cầm cân nảy mực ấm bụng, mà còn tiếp thêm tinh thần hăng hái, vượt qua mọi thiếu thốn để hoàn thành nhiệm vụ" , ông Lê Thúc Anh, nguyên Phó Chánh án TANDTC, nguyên Chánh án TAND TP.HCM nhớ lại.