Trong tiến trình phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Thái Nguyên không chỉ chú trọng đầu tư hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất mà còn đặc biệt quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống.
Quan điểm xuyên suốt của tỉnh là bảo tồn văn hóa phải gắn với phát triển sinh kế, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thái Nguyên là nơi sinh sống đan xen của nhiều dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, H’Mông… mỗi cộng đồng đều lưu giữ những giá trị văn hóa riêng thể hiện qua tiếng nói, trang phục, dân ca, dân vũ, lễ hội, ẩm thực và phong tục tập quán. Những giá trị ấy tạo nên bản sắc phong phú của vùng đất, đồng thời mở ra dư địa lớn cho phát triển du lịch và các ngành kinh tế văn hóa.
Những năm gần đây, thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, Thái Nguyên đã triển khai đồng bộ nhiều dự án, tiểu dự án bảo tồn văn hóa gắn với tạo sinh kế. Trong đó, Dự án số 6 về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống được xác định là trụ cột quan trọng, gắn trực tiếp với phát triển du lịch cộng đồng và các sản phẩm kinh tế - văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Cuối năm 2025, tại xã Võ Nhai, Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam phối hợp với ngành văn hóa tỉnh Thái Nguyên tổ chức lớp “Truyền dạy, trình diễn mô hình bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể dân ca, dân vũ dân tộc Tày, Nùng”. Lớp học có sự tham gia của 50 học viên là nghệ nhân, hạt nhân văn nghệ quần chúng đang sinh sống trên địa bàn. Các học viên được thực hành hát Then, đàn Tính, các làn điệu Sli, hát lượn “Nàng ới”, múa dân gian… dưới sự hướng dẫn trực tiếp của các nghệ nhân trong cộng đồng. Đây là lực lượng nòng cốt để vừa gìn giữ di sản, vừa phục vụ các hoạt động văn hóa, du lịch tại cơ sở.
Bà Nguyễn Thị Hải Nhung, Phó Cục trưởng Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam cho biết, văn hóa luôn được xác định là nguồn lực quan trọng cho phát triển bền vững, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo bà, việc bảo tồn hiện nay không chỉ dừng ở việc gìn giữ di sản, mà phải làm cho văn hóa “sống cùng đời sống”, trở thành động lực phát triển kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Cách tiếp cận mới là biến “cái để giữ” thành “cái để sống”, để văn hóa vừa là hồn cốt dân tộc, vừa là giá trị kinh tế.

Tại nhiều xã vùng cao của Thái Nguyên, các đội văn nghệ quần chúng dân tộc được duy trì hoạt động thường xuyên. Người cao tuổi trực tiếp truyền dạy làn điệu dân ca, dân vũ cho thế hệ trẻ. Nhiều thanh niên đồng bào dân tộc thiểu số có thêm việc làm và thu nhập từ việc tham gia biểu diễn phục vụ du khách, góp phần giữ chân lao động trẻ ở lại bản làng.
Cùng với bảo tồn văn hóa phi vật thể, các nghề truyền thống cũng được khôi phục theo hướng gắn với thị trường. Nghề dệt thổ cẩm, làm nhạc cụ dân tộc, chế tác đồ thủ công mỹ nghệ được hỗ trợ đào tạo tay nghề, cải tiến mẫu mã, xây dựng thương hiệu và kết nối tiêu thụ. Không ít sản phẩm thủ công truyền thống đã trở thành hàng hóa đặc trưng vùng cao, mang lại nguồn thu ổn định cho người dân.
Đáng chú ý, nhiều địa phương đã mạnh dạn xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, lấy văn hóa làm “linh hồn” của sản phẩm du lịch. Người dân trực tiếp tham gia đón tiếp, phục vụ du khách, trình diễn văn nghệ dân gian, giới thiệu ẩm thực truyền thống và trải nghiệm sinh hoạt bản làng. Văn hóa từ chỗ chỉ lưu giữ trong cộng đồng đã bước ra thị trường, trở thành nguồn lực kinh tế.

Tại xóm Mỏ Gà, xã Võ Nhai, nơi có 178 hộ với 755 nhân khẩu, đồng bào Tày, Nùng chiếm đa số, du lịch cộng đồng đã mở ra hướng sinh kế mới cho người dân. Nếu như trước đây thu nhập chủ yếu dựa vào ruộng nương và cây ăn quả thì nay bà con có thêm nguồn thu từ dịch vụ du lịch. Hiện điểm du lịch cộng đồng Mỏ Gà đã hình thành đội nấu ăn gồm 19 người, đội văn nghệ 20 người và 3 nhà sàn lớn có sức chứa khoảng 120 khách, sẵn sàng phục vụ các đoàn du khách trong và ngoài tỉnh.
Anh Hoàng Anh Giang, chủ một homestay tại xóm Mỏ Gà chia sẻ, từ khi tham gia làm du lịch cộng đồng, bà con trong xóm rất tích cực gìn giữ nếp nhà, trang phục, làn điệu dân ca, đồng thời học cách làm dịch vụ bài bản hơn. Theo anh, du lịch không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn giúp người dân trân trọng sâu sắc hơn bản sắc văn hóa của chính cộng đồng mình.
Việc kết hợp bảo tồn di sản văn hóa với phát triển du lịch đã được xác định rõ trong nhiều chủ trương lớn, trong đó có Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Những định hướng này tạo hành lang quan trọng để các địa phương đưa văn hóa vào hoạt động du lịch, nhất là du lịch cộng đồng, qua đó tạo sinh kế và nâng cao đời sống cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Công tác bảo tồn văn hóa còn được gắn với giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Tại nhiều trường học vùng đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh được tìm hiểu lịch sử dân tộc, học hát dân ca, múa dân vũ, tham gia các lễ hội truyền thống thông qua hoạt động ngoại khóa. Tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc được nuôi dưỡng từ những điều bình dị, gần gũi.
Thái Nguyên hiện là địa phương có kho tàng di sản văn hóa phong phú với hơn 1.000 di tích lịch sử - văn hóa và trên 550 di sản văn hóa phi vật thể. Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển các ngành kinh tế văn hóa, nhất là du lịch cộng đồng gắn với bản sắc dân tộc thiểu số. Việc bảo tồn di sản không chỉ làm giàu đời sống tinh thần mà còn mở rộng dư địa phát triển kinh tế cho vùng cao.
Bên cạnh kết quả đạt được, việc bảo tồn văn hóa gắn với sinh kế ở một số nơi vẫn gặp khó khăn về nguồn lực đầu tư, kỹ năng làm du lịch của người dân và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Tuy vậy, với định hướng đúng và sự vào cuộc của các cấp, những hạn chế này đang từng bước được tháo gỡ.

Thời gian tới, Thái Nguyên tiếp tục xác định bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc là nhiệm vụ lâu dài, gắn chặt với phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỉnh sẽ tiếp tục hỗ trợ xây dựng mô hình du lịch cộng đồng, phát triển sản phẩm văn hóa đặc trưng, đào tạo kỹ năng cho người dân tham gia dịch vụ, từng bước hình thành chuỗi giá trị kinh tế gắn với văn hóa bản địa.
Việc gắn bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế không chỉ giúp người dân giữ được cội nguồn mà còn mở ra hướng đi bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Khi văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế, đồng bào không chỉ là người gìn giữ di sản mà còn là chủ thể khai thác, sáng tạo và hưởng lợi từ chính những giá trị truyền thống của mình.