Báo Công lý
Thứ Năm, 04/6/2020

Quyền tư pháp theo quy định của Luật Tổ chức TAND

03/4/2017 10:33 UTC+7
(Công lý) - Đề tài cấp Bộ “Quyền tư pháp theo quy định của Luật Tổ chức TAND” của Thạc sĩ Trương Hòa Bình và Thạc sĩ Chu Thành Quang được Hội đồng nghiệm thu đánh giá kết quả nghiên cứu đạt loại xuất sắc.

Đề tài tập trung nghiên cứu về quyền tư pháp của Tòa án và phân tích, đánh giá cả về mặt lý luận, thực tiễn đồng thời nêu những đề xuất, giải pháp pháp lý để Tòa án thực hiện tốt quyền tư pháp. 

TAND là cơ quan thực hiện quyền tư pháp

Luật Tổ chức TAND năm 2014 chứa đựng rất nhiều quy định mới, làm thay đổi căn bản tổ chức bộ máy cũng như vai trò, vị thế của các TAND, đó là khẳng định TAND là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Đây là quy định phù hợp với chuẩn mực pháp luật tiến bộ của thế giới, mà mục đích tối thượng là để nhằm đạt được lẽ công bằng cho tất cả mọi người trong xã hội. Nội hàm của quyền tư pháp được quy định tại Điều 2 của Luật Tổ chức TAND, nhưng do là một quy định mới nên cách hiểu và thực hiện quyền tư pháp trên thực tế còn nhiều bỡ ngỡ, khó khăn.

Quyền tư pháp theo quy định của Luật Tổ chức TAND

Một phiên tòa hành chính (ảnh minh họa)

Trước yêu cầu bảo đảm tôn trọng quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN, những nội dung của quyền tư pháp cần thiết phải được cụ thể hóa trong các luật tố tụng và các văn bản pháp luật khác để các TAND thực hiện. Chẳng hạn, khoản 8 Điều 2 Luật Tổ chức TAND quy định: TAND có “quyền bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử”; vậy thực hiện quyền này ra sao? thông qua những con đường nào? thì cần thiết phải ban hành quy trình, quy chế rõ ràng, thống nhất; đây là vấn đề phải được đầu tư nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm nước ngoài để áp dụng một cách sáng tạo vào tình huống thực tiễn trong nước.

Mặt khác, vào thời điểm này, các dự án BLTTHS (sửa đổi), BLTTDS (sửa đổi), Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua với nhiều quy định liên quan đến việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, ví dụ tại Điều 4 BLTTDS (sửa đổi) quy định “Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Bên cạnh đó, nhiệm vụ tổng kết phát triển, công bố, và áp dụng án lệ - một trong những hoạt động hiện thực hóa quyền tư pháp cũng đòi hỏi phải được nghiên cứu chuyên sâu trên cơ sở kinh nghiệm của nước ngoài và thực tiễn tại Việt Nam.

Trước những vấn đề đặt ra liên quan đến quy định TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, Thạc sĩ Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ và Thạc sĩ Chu Thành Quang, Vụ trưởng Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC đã triển khai nghiên cứu và thực hiện đề tài cấp Bộ “Quyền tư pháp theo quy định của Luật Tổ chức TAND”. Chủ nhiệm đề tài là Thạc sĩ Trương Hòa Bình, Phó Chủ nhiệm đề tài là Thạc sĩ Chu Thành Quang đã tập trung nghiên cứu về quyền tư pháp của Tòa án là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp nói chung và yêu cầu công tác triển khai thi hành Luật Tổ chức TAND nói riêng.

Về bố cục, ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương. Chương I nêu những vấn đề lý luận chung về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN và nghiên cứu định nghĩa, đặc điểm, vai trò của quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN; các yếu tố đảm bảo cho Tòa án thực hiện tốt quyền tư pháp. Chương II nghiên cứu, phân tích, đánh giá cả về mặt lý luận và thực tiễn việc thực hiện quyền tư pháp của TAND được quy định trong Luật Tổ chức TAND, BLTTHS, BLTTDS, Luật Tố tụng hành chính để từ đó chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình Tòa án thực hiện quyền tư pháp. Chương III nêu những đề xuất, giải pháp pháp lý để tham khảo trong quá trình xây dựng các luật liên quan đến hoạt động của TAND cũng như trong công tác tổng kết phát triển án lệ, công bố án lệ để Tòa án thực hiện tốt quyền tư pháp.

Các đề xuất để Tòa án thực hiện có hiệu quả quyền tư pháp

Để nâng cao vị thế, vai trò và hiệu quả của TAND trong thực hiện quyền tư pháp, Thạc sĩ Trương Hòa Bình và Thạc sĩ Chu Thành Quang đã đưa ra những đề xuất cụ thể về quyền tư pháp của Tòa án. Theo đó, về độc lập tư pháp, các tác giả đề đề xuất cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và các cơ chế thực tế để đảm bảo tốt hơn độc lập tư pháp gồm: tổ chức hệ thống Tòa án không theo đơn vị hành chính, lãnh thổ; có các cơ chế bổ nhiệm Thẩm phán phù hợp; mối quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án, Phó Chánh án; mối quan hệ giữa Tòa án với Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra...

Về biện pháp tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác, đề tài cho rằng  cần quy định chặt chẽ căn cứ và thẩm quyền bắt tạm giữ, tạm giam để tránh việc lạm dụng hoặc tùy tiện như thực tiễn thời gian qua; bổ sung quy định Tòa án phải kiểm soát chặt chẽ các biện pháp ngăn chặn có liên quan đến quyền tự do của con người như bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét. Để thực hiện nguyên tắc công khai trong hoạt động tố tụng, cần mở rộng quyền khiếu nại của cá nhân, cơ quan, tổ chức về việc bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Quyền khiếu nại của những người này có thể được gửi đến Tòa án. Tòa án thông qua hoạt động kiểm soát đánh giá tính hợp pháp của các quyết định và hành vi tố tụng, có quyền giải quyết khiếu nại, có quyền yêu cầu thay đổi, hủy bỏ hoặc ra các quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ nếu quyết định, lệnh (bao gồm cả các quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn), hoặc quyết định ngừng thực hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Mặt khác, nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 (Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp và chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền để tuyên một người có tội hoặc không có tội), bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, các tác giả đề nghị chỉ nên giao cho Tòa án mới có thẩm quyền đình chỉ vụ án trong trường hợp miễn trách nhiệm hình sự hoặc tạm đình chỉ vụ án trong trường hợp áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Về thẩm quyền của Tòa án đối với chứng cứ, TANDTC với vai trò thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử cần ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Điều 252 BLTTHS về việc Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ hoặc có thể phối hợp với liên ngành tư pháp trung ương để hướng dẫn. Trong đó mối quan hệ giữa quy định này và quy định trả hồ sơ để điều tra bổ sung là rất quan trọng; khi nào trả hồ sơ, khi nào Tòa án tự xác minh, thu thập chứng cứ thì cần cụ thể hóa các cơ chế để Tòa án thực hiện. Ngoài ra, TANDTC cần tăng cường tập huấn cho các Tòa án địa phương để giới thiệu những điểm mới của Luật Tổ chức TAND và BLTTHS, trong đó nhấn mạnh tới các thẩm quyền mới của Tòa án trong quá trình xác định, thu thập, bổ sung chứng cứ mới được quy định trong BLTTHS. Những buổi tập huấn về vấn đề này nhằm nâng cao kỹ năng, kinh nghiệm của Thẩm phán các cấp về hoạt động thu thập, bổ sung chứng cứ mới được quy định cho Tòa án trong giải quyết vụ án hình sự. Bên cạnh đó, thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án cần được duy trì, đồng thời cần thiết phải có quy định cụ thể hơn và cơ chế bảo đảm việc triệu tập những người đã tiến hành tố tụng đến phiên tòa để giải trình về các vấn đề liên quan.

Về vai trò của Tòa án trong việc nâng cao hiệu quả thi hành án, cần xác định hoạt động thi hành án là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng trong cả ba lĩnh vực dân sự, hình sự và hành chính để Toà án phải có trách nhiệm đến cùng với bản án, quyết định mà mình ban hành. Không nên cắt khúc, tách rời các giai đoạn tố tụng làm hạn chế mối quan hệ giữa hoạt động xét xử với hoạt động thi hành án dân sự, giữa Toà án với cơ quan thi hành án dân sự. Quy định rõ hơn trách nhiệm của Tòa án trong việc chuyển giao bản án, quyết định; chuyển giao các tài liệu, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án; trả lời kiến nghị, giải thích bản án khi có yêu cầu; trả lời các khiếu nại của công dân liên quan đến bản án trong quá trình thi hành án và phải chịu trách nhiệm của mình đối với hoạt động này.

Về cơ chế và thẩm quyền của Tòa án trong việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đề tài kiến nghị trước hết cần thay đổi quan điểm, nhận thức về cơ chế và thẩm quyền của Tòa án trong việc thực hiện quyền tài phán đối với các văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trên thực tế, vào thời điểm và điều kiện hiện tại ở Việt Nam thì việc thiết lập cơ chế, thẩm quyền của Tòa án trong việc bảo vệ Hiến pháp không nhất thiết phải đồng nghĩa với việc thành lập Tòa án Hiến pháp độc lập. Vì vậy, TANDTC cần được trao thẩm quyền giám sát, xử lý các văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, pháp luật và xác lập cơ cấu tổ chức, trình tự, thủ tục riêng biệt về phán quyết vi phạm Hiến pháp.

Về vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật và chức năng công bố án lệ, các tác giả đề nghị cần tiếp tục hoàn thiện chế định án lệ trên cơ sở sơ kết, đánh giá thực tiễn việc công bố, áp dụng án lệ thời gian qua; đồng thời tiếp tục nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới về án lệ để có những bổ sung phù hợp.

Đề tài “Quyền tư pháp theo quy định của Luật tổ chức TAND” của Thạc sĩ Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ và Thạc sĩ Chu Thành Quang, Vụ trưởng Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC được Hội đồng nghiệm thu đánh giá kết quả nghiên cứu đạt loại xuất sắc.

Trần Quang Huy
Bạn đang đọc bài viết Quyền tư pháp theo quy định của Luật Tổ chức TAND tại chuyên mục Tòa án của Báo điện tử Công lý. Mọi thông tin chia sẻ, phản hồi xin gửi về hòm thư conglydientu@congly.vn, Hotline 091.2532.315 - 096.1101.678

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật