Đời sống

Độc lập – Hai tiếng thiêng liêng như bản hùng ca chưa bao giờ lặng

Bá Mạnh 31/08/2025 - 08:35

Những ngày mùa thu lịch sử, trong lòng mỗi người dân Việt Nam đều rạo rực niềm vui, niềm tự hào về Tết Độc lập. Được sống trong hòa bình hôm nay, chúng ta càng biết ơn hơn đối với thế hệ cha ông đã anh dũng hi sinh cho tổ quốc.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo. Và trong mùa Thu lịch sử, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), cả dân tộc Việt Nam đã lắng nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa lịch sử dân tộc Việt Nam sang trang mới, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Thời khắc lịch sử đó đã trở thành ký ức không thể nào quên của nhân dân cả nước.

80 năm, đất nước từ đêm dài nô lệ kéo dài đằng đẵng đến vươn mình tỏa ánh bình minh Độc lập. 80 năm, một chặng đường đủ để minh chứng cho một tinh thần Việt Nam phi thường. Từ ngày khai sinh non trẻ, đất nước đã tự mình đứng dậy, tự lực, tự cường để viết nên câu chuyện của riêng mình. Một quốc gia bé nhỏ nhưng chưa bao giờ cúi đầu, luôn kiên trung với con đường đã chọn.

image(1).jpg
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đưa lịch sử dân tộc Việt Nam bước sang trang mới, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do.Ảnh tư liệu: TTXVN

Những năm tháng gian khổ nhưng quá đỗi tự hào đó luôn vẹn nguyên trong ký ức của cả một thế hệ đi trước - họ là người cán bộ tiền khởi nghĩa, người lính trận trở về, người vợ, người mẹ liệt sĩ…

Cụ Trần Hậu Hoà (98 tuổi - nguyên Chủ tịch UBND huyện Can Lộc giai đoạn 1968-1972, thôn Lương Hội, xã Gia Hanh, tỉnh Hà Tĩnh), là một trong số những người đã tham gia sự kiện phong trào khởi nghĩa Can Lộc – nơi cướp chính quyền đầu tiên ở Hà Tĩnh trong cuộc Cách mạng tháng Tám 1945. Cụ rất xúc động khi nhớ về khoảnh khắc đó cũng như ngày Quốc khánh đầu tiên của dân tộc sau gần 100 năm bị đô hộ dưới ách áp bức bóc lột của chế độ thực dân phong kiến hà khắc.

Cụ Hòa sinh ra tại thôn Lương Hội (xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc cũ) trong một gia đình trung nông. Thời bấy giờ, gia đình cụ cũng như bao nông dân Can Lộc khác phải chịu đủ thứ áp bức, bóc lột từ chính quyền thống trị. Không chỉ sưu cao, thuế nặng, cường hào, ác bá trong làng còn lộng hành ra tay đàn áp người dân.

Giữa tháng 8/1945, khi Việt Minh kêu gọi nhân dân Can Lộc đứng lên giành chính quyền, người thanh niên 18 tuổi Trần Hậu Hòa đã cầm cờ Việt Minh đứng vào hàng ngũ đoàn biểu tình.

“Ngày 17/8/1945, đoàn biểu tình của chúng tôi chân đất cầm cờ đỏ sao vàng, búa liềm và biểu ngữ nối hàng dài lên đến hàng nghìn người. Tại sân vận động huyện Can Lộc, hàng trăm quần chúng nhân dân các xã lân cận cùng đội tự vệ vũ trang Trảo Nha đã hô vang khẩu hiệu đòi chính quyền tay sai phải đầu hàng", cụ Trần Hậu Hòa chia sẻ.

Trước khí thế cách mạng sôi sục của quần chúng, tên tri phủ và bọn nha lại xin đầu hàng. Lực lượng tự vệ chiếm phủ đường và công sở. Sổ sách, giấy tờ và triện đồng bị tịch thu, tiêu hủy tại chỗ. Cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc trụ sở phủ đường.

Dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Khởi nghĩa Việt Minh do đồng chí Lê Hồng Cơ dẫn đầu, Can Lộc đã trở thành huyện đầu tiên của Hà Tĩnh giành chính quyền về tay nhân dân. Ngay sau đó, tất cả các huyện khác cũng đều tổng khởi nghĩa giành chính quyền và Hà Tĩnh là một trong 3 tỉnh giành được chính quyền sớm nhất trong Cách mạng tháng Tám 1945.

cu_tran_hau_hoa.jpg
Cụ Trần Hậu Hòa (98 tuổi) - nguyên Chủ tịch UBND huyện Can Lộc giai đoạn 1968-1972.

Đến ngày 2/9/1945, cùng với hàng triệu đồng bào cả nước, cụ Trần Hậu Hòa đã hân hoan tham gia mít tinh chào đón ngày tuyên bố độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

“Từ một người dân nô lệ, chỉ biết đến sưu cao thuế nặng giờ đây người dân đã được tham gia bàn bạc việc làng, việc nước nên ai cũng hồ hởi, phấn khởi. Khó có thể nói hết niềm vui sướng trong tôi khi ấy. Giờ đây, cứ mỗi dịp Quốc khánh, lòng tôi lại rạo rực, cảm xúc ngày độc lập đầu tiên ấy vẫn vẹn nguyên, không thể diễn tả thành lời”, cụ Trần Hậu Hòa chia sẻ.

ccb_le_van_cho_1(1).jpg
Cựu chiến binh Lê Văn Chớ gần 30 năm nay cùng Ban liên lạc của mình đã rong ruổi khắp mọi chiến trường xưa để đi tìm hài cốt đồng đội.

Kể về ký ức những cái Tết Độc lập, cựu chiến binh Lê Văn Chớ (75 tuổi, xã Mai Phụ, tỉnh Hà Tĩnh) xúc động nói: Tôi sinh ra khi Cách mạng Tháng Tám đã thành công, chính quyền đã về tay nhân dân, nhưng bối cảnh ngày ấy vẫn rất gian khó bởi sự xâm lược của kẻ thù. Chính vì vậy, khi lớn lên, thấm nhuần lý tưởng cách mạng và tiếp bước truyền thống cha anh đi trước tôi đã nhập ngũ để góp sức mình bảo vệ nền độc lập, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đơn vị chúng tôi nhiều đồng đội đã hy sinh, may mắn tôi được trở về nhưng mỗi dịp 27/7 hay kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9, hay đơn giản nhìn thấy những kỷ vật thời chiến lại khiến tôi nhớ về đồng đội, nhớ những năm tháng chiến đấu oanh liệt…

Cuối năm 1966, Cựu chiến binh Lê Văn Chớ mới vừa tròn 18 tuổi. Ông học Trường trinh sát đặc công rồi vào chiến trường B. Suốt ba năm ở trung đoàn 812, chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị khốc liệt, ông đã tham gia ngót 100 trận đánh lớn nhỏ, bảy lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những cái Tết Độc lập giữa chiến trường khốc liệt luôn là kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời của ông. Giữa mưa bom, bão đạn, đơn vị vẫn tổ chức ăn Tết Độc lập để động viên, khích lệ tinh thần, tiếp thêm sức mạnh cho mọi người trước khi bước vào trận đánh lớn.

Cựu chiến binh Lê Văn Chớ nhớ lại: “Tết Độc lập ở chiến trường được tổ chức đơn sơ, nhưng rất ý nghĩa, là nguồn sức mạnh để mỗi người lính kiên cường vượt lên gian khó, quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược để bảo vệ quê hương, bảo vệ nền độc lập”.

55 năm trước, ngày 19/5/1970, trong trận đánh ác liệt chiếm cao điểm 440 tại động Chiêm Dòng ở phía Tây Hải Lăng, Quảng Trị, người lính Lê Văn Chớ bị đạn xuyên thủng từ lưng ra trước bụng, ruột bị đứt làm 4 đoạn.

Trận chiến đấu ác liệt đó khiến ông bị thương nặng, buộc phải rời đơn vị về hậu phương lớn chữa trị. Giữa năm 1971 bình phục, ông lại trở về quân đội, làm trợ lý đặc công Bộ chỉ huy quân sự Hà Tĩnh. Năm 1976, ông phục viên, là thương binh 2/4 với thương tật 61%.

Những ngày tháng sát cánh cùng đồng đội chiến đấu đối, với ông Chớ là những tháng ngày không thể nào quên. Ông may mắn hơn nhiều đồng đội khác khi vẫn còn được trở về đoàn tụ bên gia đình, được sống trong những ngày tháng hòa bình.

Thấu hiểu giá trị của “Độc lập - tự do - hạnh phúc”, người cựu chiến binh Lê Văn Chớ cùng với ban liên lạc của mình gần 30 năm nay đã rong ruổi trên khắp mọi chiến trường xưa để đi tìm hài cốt đồng đội. Ông cùng Ban liên lạc của mình đã kết nối, chắp nối thông tin với vô số thân nhân của các liệt sĩ để cùng đưa các anh về quy tập, yên nghỉ tại các nghĩa trang.

“Được sống trong thời bình, hưởng những cái Tết Độc lập như ngày hôm nay là sự hy sinh xương máu của lớp lớp cha anh, những chiến sĩ cộng sản kiên trung, của biết bao đồng đội. Chính vì vậy, tôi luôn dạy con cháu phải luôn trân trọng nền độc lập này và không ngừng cống hiến vì sự phát triển, giàu mạnh, ngày càng đi lên của đất nước”, cựu chiến binh Lê Văn Chớ chia sẻ.

Đất nước hòa bình, độc lập, không chỉ được viết nên bởi máu, bởi hoa, bởi những con người vĩ đại hay bằng sự đánh đổi tuổi xuân của hàng ngàn thế hệ mà hòa bình, độc lập còn được viết lên bởi sự hy sinh cao cả của những người mẹ, người vợ đã thầm lặng vượt qua bao mất mát không gì có thể bù đắp, để rồi kiên cường đứng dậy, sống cuộc đời ý nghĩa trong hành trình viết nên trang sử hào hùng của dân tộc.

Bà Trần Thị Tuấn (trú thôn Tân Phong, xã Kỳ Giang cũ, nay là xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh – Vợ liệt sĩ Nguyễn Đình Huề) đã bước sang tuổi 83, dáng nhỏ, lưng còng, tuổi tác đã làm đôi tai bà yếu đi nhưng ánh mắt, giọng nói và đặc biệt là trí nhớ vẫn còn rất tinh anh.

3-.ba-tuan.jpg
Bà Trần Thị Tuấn – Vợ liệt sĩ Nguyễn Đình Huề.

Bà kể, năm 1962, bà tròn 20 tuổi, ông (Liệt sĩ Nguyễn Đình Huề) hơn bà 2 tuổi. Hai người gặp nhau rồi nên duyên vợ chồng. Đám cưới của ông bà giản dị, chỉ một mâm cau trầu, vài bó hoa vườn cùng những lời chúc phúc của hai bên gia đình.

Ngày 26/12/1962, ông bà tổ chức đám cưới, song chỉ vẻn vẹn mười ngày bên nhau rồi ông trở về đơn vị. Giữa thời chiến tranh, ông là lính nên đi biền biệt, cả năm trời mới về được ít ngày rồi lại đi. Đến năm 1965, bà Tuấn chết lặng, lòng quặn thắt khi nhận tin báo chồng mình đã anh dũng hy sinh trong một trận đánh ác liệt. Tính ra, từ năm 1962 đến 1965, ba năm trời, hai vợ chồng bà chỉ gặp nhau được ba lần, mỗi lần vỏn vẹn vài ngày ngắn ngủi...

Chiến tranh đã cướp đi của bà người chồng thân yêu, cướp đi của bà niềm hạnh phúc được làm vợ và để lại nỗi buồn thương đằng đẵng... Khi bom đạn chiến tranh đã lùi xa, đôi ba người cảm mến xin được chung bước cùng bà, nhưng bà đều từ chối. Bà chấp nhận ở vậy, thờ chồng.

doc_lap.jpg
Độc lập không chỉ còn trong từng trang sử, trong từng câu chuyện mà ở ngay cả trong ánh mắt tự hào của thế hệ hôm nay.

Độc lập không chỉ còn trong từng trang sử, trong từng câu chuyện mà ở ngay cả trong ánh mắt tự hào của thế hệ hôm nay. Những ngày này, trên từng đường làng, ngõ xóm, cờ hoa rực rỡ tung bay trong niềm vui kỷ niệm đất nước ngày Độc lập. 80 năm đã trôi qua kể từ buổi sáng hào hùng ấy, hai tiếng Độc lập thiêng liêng như một bản hùng ca chưa bao giờ lặng, thôi thúc chúng ta sống xứng đáng với những gì cha ông đã trao lại, cùng nhau viết tiếp những giai điệu mới cho bản tình ca đất nước, giai điệu khát vọng của hòa bình, của tình yêu thương.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Độc lập – Hai tiếng thiêng liêng như bản hùng ca chưa bao giờ lặng