Hơn một năm sau ngày nghỉ hưu, vị nguyên Chánh án vẫn lặng lẽ bên chiếc máy tính quen thuộc, tỉ mỉ viết lại hành trình gần 30 năm trong ngành Tòa án, một hành trình mà mỗi bản án vừa là phán quyết pháp lý, vừa kết tinh trách nhiệm, bản lĩnh cùng những trăn trở âm thầm với công lý.

Một buổi đầu xuân, khi nhịp sống dường như chậm hơn trong những ngày nghỉ Tết, chúng tôi tìm đến gặp ông Nguyễn Văn Đồng, nguyên Chánh án TAND thành phố Uông Bí (cũ). Không còn những phiên tòa với những tranh luận căng thẳng, không còn lịch làm việc dày đặc, nhưng cảm giác về một người làm nghề kỷ luật, chỉn chu vẫn hiện rõ trong từng cử chỉ.
Trước màn hình máy tính, ông chăm chú đọc lại bản thảo, thi thoảng dừng lại để chỉnh sửa, bổ sung từng chi tiết nhỏ. Ông ngẩng lên, mỉm cười nhẹ: “Viết mãi vẫn thấy còn nhiều điều chưa nói hết…”.
Hành trình trưởng thành từ thực tiễn
Trên bàn là chiếc máy tính cùng những cuốn sổ ghi chép đã theo ông suốt nhiều năm công tác. Những dòng chữ tích lũy theo thời gian nay trở thành chất liệu để ông hoàn thiện cuốn hồi ký “Một thời không quên”, nơi lưu giữ ký ức nghề nghiệp qua gần ba thập kỷ gắn bó với ngành Tòa án, bắt đầu từ tháng 4/1997 khi ông được tuyển dụng làm Thư ký Tòa án tại Uông Bí.
Bước vào ngành ở tuổi ngoài 30, ông không đi theo con đường đào tạo chuyên sâu ngay từ đầu. Thay vào đó là quá trình tự học, tự tích lũy qua từng vụ việc cụ thể. Những năm làm Thư ký giúp ông nắm chắc nền tảng nghiệp vụ, hiểu rõ quy trình tố tụng.
Giai đoạn công tác tại huyện Hải Hà (cũ), tỉnh Quảng Ninh, một địa bàn xa, điều kiện còn nhiều hạn chế, trở thành phép thử thực sự. Khi được bổ nhiệm Thẩm phán, ông trực tiếp đối diện áp lực nghề nghiệp: khối lượng công việc lớn, yêu cầu chuyên môn cao, trong khi nguồn lực hạn chế. Chính môi trường ấy rèn giũa bản lĩnh, hình thành tư duy thận trọng, khách quan và kiên định.
Chính tại quãng thời gian này, nhiều vụ việc đã để lại trong ông những suy ngẫm sâu sắc, không chỉ về pháp luật, mà còn về con người và những biến động của đời sống.
Một trong những vụ án khiến ông nhớ mãi là câu chuyện về một cặp vợ chồng dân tộc thiểu số, đến với nhau khi người vợ mới 16 tuổi. Không đăng ký kết hôn, chỉ có sự thừa nhận theo phong tục, họ chung sống với nhau gần 9 năm, có 5 người con, trải qua nhiều lần di cư trước khi ổn định cuộc sống tại Hải Hà.
Khi mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn, người phụ nữ tìm đến Tòa án. Nhưng đó không phải là một vụ ly hôn theo nghĩa thông thường. Về mặt pháp lý, giữa họ chưa từng tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định rõ đây là trường hợp tảo hôn, vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật. Quyết định được đưa ra là “không công nhận là vợ chồng”.
Một phán quyết ngắn gọn, nhưng phía sau là nhiều trăn trở. Bởi giữa hai con người ấy không chỉ là một mối quan hệ bị phủ nhận về mặt pháp lý, mà còn là 5 đứa trẻ, những đứa trẻ cần được bảo đảm quyền lợi, cần được chăm sóc, nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nhất có thể. “Có những vụ việc khiến mình suy nghĩ rất lâu, không phải vì khó về điều luật mà vì những hệ lụy phía sau bản án”, ông ghi lại trong bản thảo.
Sau phiên xử, áp lực vẫn chưa dừng lại. Bị đơn trong vụ án đã có hành vi bức xúc, thậm chí có lời lẽ đe dọa. Tình huống được xử lý kịp thời với sự phối hợp của cơ quan chức năng, bảo đảm an toàn cho người tiến hành tố tụng, đồng thời giúp đối tượng nhận thức lại hành vi.
Những trải nghiệm như vậy, theo ông, là phần rất thật của nghề, những áp lực không thể hiện trong bản án, nhưng luôn hiện hữu trong thực tế công tác.
Trở lại Uông Bí, nơi số lượng án tăng nhanh, tính chất ngày càng phức tạp, ông tiếp tục đảm đương khối lượng công việc lớn. Kinh nghiệm tích lũy từ thực tiễn được phát huy rõ nét, giúp ông xử lý hiệu quả nhiều vụ việc, bảo đảm đúng quy định pháp luật, hạn chế sai sót, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
Điều đọng lại trong cuốn hồi ký không nằm ở thành tích, mà ở chiều sâu trải nghiệm. Mỗi vụ việc đều để lại những bài học riêng, góp phần hình thành tư duy nghề nghiệp ngày càng hoàn thiện.
Theo ông, công lý không chỉ thể hiện qua điều luật; giá trị còn nằm ở cách vận dụng sao cho hợp lý, thuyết phục và giàu tính nhân văn. Quá trình giải quyết một vụ việc đòi hỏi cái nhìn toàn diện, đánh giá chứng cứ khách quan, đồng thời cân nhắc đầy đủ các yếu tố thực tiễn trong khuôn khổ pháp luật.
Viết để trao lại những giá trị đã đi qua
Sau khi nghỉ hưu, ông không tách mình khỏi nghề. Ông lựa chọn tiếp tục gắn bó bằng việc viết. Cuốn hồi ký vì thế mang ý nghĩa như một sự tổng kết, đồng thời là sự chia sẻ.
Trong phần mở đầu, ông cho biết mong muốn ghi lại “những câu chuyện có thật bản thân đã trực tiếp tham gia hoặc chỉ đạo giải quyết”, qua đó góp phần làm rõ vai trò của Tòa án trong bảo vệ công lý và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Khép lại câu chuyện đầu xuân, ông Nguyễn Văn Đồng chậm rãi chia sẻ: “Mỗi công việc đều có điểm khởi đầu và điểm kết thúc, nhưng hành trình công tác trong ngành Tòa án lại là quãng thời gian rất đặc biệt, nơi tôi có cơ hội giúp đỡ nhiều người, bảo vệ lẽ phải và đồng thời tự rèn giũa, trưởng thành từng ngày trong suy nghĩ cũng như bản lĩnh nghề nghiệp.
Nhìn lại chặng đường đã qua, điều tôi mong muốn nhất là những kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn xét xử sẽ trở thành hành trang quý cho thế hệ cán bộ trẻ, những người đang tiếp nối sứ mệnh gìn giữ công lý. Công sức của người Thẩm phán không thể đo đếm bằng 8 giờ làm việc tại trụ sở, bởi phía sau mỗi bản án là cả một quá trình nghiên cứu, cân nhắc rất kỹ lưỡng giữa lý và tình để đưa ra phán quyết công tâm, khách quan.
Tôi mong xã hội có cái nhìn đầy đủ hơn về nghề, một nghề đặc biệt như lời nguyên Phó Chánh án TANDTC Tưởng Duy Lượng từng nói, đó là ‘nghề phán xử’, nơi người làm nghề phải giữ vững bản lĩnh, đạo đức và trách nhiệm trước pháp luật và nhân dân”.
Rời căn phòng nhỏ khi ánh chiều đầu xuân dần buông, hình ảnh ông vẫn lặng lẽ bên trang viết khiến chúng tôi nhiều suy ngẫm.
Trong bối cảnh cải cách tư pháp tiếp tục được đẩy mạnh, yêu cầu xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, liêm chính và phụng sự Nhân dân ngày càng đặt ra cao hơn, những trải nghiệm được chắt lọc từ thực tiễn như trong cuốn hồi ký ấy càng trở nên có giá trị. Đó là ký ức của một cá nhân, đồng thời phản ánh hành trình nỗ lực của đội ngũ những người làm công tác xét xử, những người đang ngày đêm giữ gìn cán cân công lý, củng cố niềm tin của Nhân dân vào pháp luật.