Suốt hơn 300 năm qua, nhịp sống của người dân làng Bến Hến (xã Đức Minh, tỉnh Hà Tĩnh) vẫn vẹn nguyên theo từng con nước. Giữa những cực nhọc của nghề “mò trăng đáy nước”, ngọn lửa luộc hến bên bờ sông La chưa bao giờ tắt, chắt chiu vị ngọt phù sa nuôi dưỡng bao thế hệ.
Khởi đầu từ bóng tối và bùn sâu
Khi kim đồng hồ chưa kịp nhích sang con số 4, cả làng Bến Hến - xã Đức Minh (trước đây thuộc xã Sơn Trường, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), đã xao động bởi tiếng bước chân, tiếng gọi nhau í ới và tiếng máy nổ xé toạc màn sương mù đặc quánh trên sông La. Giữa lúc cả thế gian còn đang chìm trong giấc ngủ, những "thủy binh" của làng đã bắt đầu cuộc hành trình mưu sinh đầy nhọc nhằn.

Thuyền của ông Trần Văn Hợi ngược con nước ra giữa dòng, ở tuổi đã ngoài 60, cái tuổi lẽ ra cần nghỉ ngơi nhưng đôi bàn tay ông vẫn rắn đanh như lim, đôi mắt tinh anh nhìn thấu con nước. Chiếc cào sắt nặng nề được thả xuống, găm chặt vào lớp bùn đáy sông. Ông Hợi rướn người, đôi chân đạp mạnh vào mạn thuyền làm điểm tựa, đôi tay ghì chặt cán cào, kéo một đường dài dứt khoát.
“Nghề này, nếu không có cái gan lì của người miền Trung thì không trụ nổi”, ông Hợi vừa thở dốc vừa nói. “Dưới mặt nước xanh kia là cả một thế giới khác. Có khi cào lên toàn bùn cát, có khi gặp luồng hến thì khoang thuyền nặng trĩu. Nhưng cực nhất là những ngày đông, nước sông lạnh thấu xương, đôi bàn tay tê dại không còn cảm giác, nhưng vẫn phải bám lấy cán cào vì đó là 'nồi cơm' của cả gia đình”.

Mỗi mẻ cào kéo lên là một lần người thợ sông nước đối diện với sự may rủi. Hến sông La nổi tiếng nhỏ con nhưng ruột chắc, vị ngọt đậm đà không đâu sánh bằng. Đó là món quà mà dòng sông chắt chiu từ phù sa thượng nguồn đổ về để bù đắp cho những thân phận nhọc nhằn nơi hạ lưu.
Vũ điệu của khói và nước
Nếu đàn ông là người khai thác từ lòng sâu thì phụ nữ Bến Hến lại là những người "giữ lửa" đúng nghĩa. Khoảng 9 giờ sáng, khi những con thuyền rẽ sóng hồi bến, dọc triền sông dài 400m bỗng chốc rực lên những ánh lửa hồng.
Hơn 80 lán trại nhỏ nằm san sát nhau, khói tỏa nghi ngút tạo nên một khung cảnh vừa thực vừa ảo. Đây là giai đoạn quan trọng nhất: luộc hến.


Chị Nguyễn Thị Lành, người đã có hơn 20 năm tuổi nghề cho biết, luộc hến là một nghệ thuật của sự kiên nhẫn.
“Đừng tưởng cứ cho vào nồi là xong. Phải giữ lửa thật đều, nước chỉ cho sâm sấp vài gáo. Khi hơi nước bốc lên nghi ngút, tay phải đảo liên tục để hến mở miệng đều tăm tắp. Chỉ cần quá lửa một chút, thịt hến sẽ dai và mất đi vị ngọt tự nhiên”, chị Lành vừa nói vừa nhanh tay chắt dòng nước hến xanh trong ra những chiếc can nhựa. Thứ nước ấy, người dân quê tôi quý như ngọc bởi nấu canh rau tập tàng hay nấu cháo đều mang vị ngọt thanh tao đến lạ lùng.
Công đoạn vất vả nhất chính là "đãi". Sau khi luộc, ruột hến được đổ ra những chiếc thúng tre lớn. Những người phụ nữ lại vội vã bước xuống bến sông, ngâm mình dưới dòng nước chảy để đãi vỏ. Đôi tay họ khuấy mạnh theo một nhịp điệu đã thành bản năng. Vỏ hến nặng chìm xuống, ruột hến nhẹ nổi lên, được hớt khéo léo vào những chiếc rổ nhỏ.

Giữa cái nắng hanh hao của đất miền Trung hay cái lạnh cắt da thịt của mùa gió bão, những bóng lưng tảo tần ấy vẫn cứ cúi xuống mặt sông. Chị Lành tâm sự: “Nghề này làm cho tay chân chai sần, lưng mỏi gối chùn nhưng mỗi khi nhìn thấy những thúng ruột hến trắng ngần chờ xuất đi, chúng tôi lại thấy an lòng. Hến đã nuôi con tôi ăn học, xây được nhà cửa, làm sao mà bỏ được”.
Ba trăm năm đỏ lửa bên dòng La
Nhìn vào con số 300 năm, người ta mới thấy hết sự kỳ diệu của ngôi làng này. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, từ thời dùng cào tre thô sơ đến nay đã có máy móc hỗ trợ nhưng cái cốt cách của người làng hến vẫn vậy: nhẫn nại, chân phương và đầy lòng tự trọng.



Ngày nay, làng Bến Hến không còn sản xuất manh mún. Với sự hỗ trợ của chính quyền xã Đức Minh, khu vực chế biến đã được quy hoạch bài bản hơn. Hệ thống kè chống sạt lở sông Ngàn Phố hoàn thành giúp người dân yên tâm sản xuất ngay cả trong mùa mưa bão. Những hộ dân được hỗ trợ vốn đóng thuyền, mua máy nổ, giúp giảm bớt sức người trong khâu khai thác.
Ông Lê Đình Tài, Phó Chủ tịch UBND xã Đức Minh, khẳng định: “Nghề hến không chỉ là sinh kế mà đã trở thành hồn cốt của mảnh đất này. Chúng tôi đang nỗ lực bảo tồn và phát triển làng nghề gắn với du lịch trải nghiệm để khách phương xa về đây không chỉ để ăn bát cháo hến ngon, mà còn để hiểu về lịch sử và nỗi nhọc nhằn của người dân bên dòng sông La”.

Đặc biệt, ở Bến Hến, không có gì là phế phẩm. Vỏ hến được các lò vôi thu mua để nung vôi bón ruộng hoặc nghiền làm thức ăn chăn nuôi. Nước hến, ruột hến trở thành đặc sản có mặt trong các nhà hàng từ Hà Tĩnh ra đến Hà Nội, vào tận Sài Gòn. Mỗi mẻ hến là sự kết tinh của tinh hoa trời đất và sức lao động bền bỉ của con người.
Khi hoàng hôn bắt đầu nhuộm vàng mặt sông La, nhịp sống ở Bến Hến mới dần lắng lại. Những chiếc thuyền được cột chặt vào cọc tre, những bếp lửa được ủ tro để giữ nhiệt cho buổi sớm mai. Lũ trẻ con trong làng chạy tung tăng trên bến nước, tiếng cười giòn tan hòa vào tiếng sóng vỗ.

Chia tay Bến Hến, chúng tôi mang theo dư vị của bát nước hến nóng hổi và hình ảnh những đôi tay gầy guộc nhưng đầy sức mạnh của người thợ. Nghề hến có thể còn cực nhọc, dòng sông có thể có lúc vơi lúc đầy nhưng chừng nào dòng La còn chảy, chừng nào ngọn lửa dưới những nồi gang còn đỏ thì vị ngọt của hến sông La vẫn sẽ còn mãi, như một lời khẳng định về sức sống mãnh liệt của một làng nghề hàng trăm năm tuổi.
Dòng La hôm nay vẫn xanh và lòng người Bến Hến vẫn cứ nồng hậu, thủy chung với nghề như thế. Ba trăm năm - một chặng đường kéo dài qua vài thế hệ nhưng với làng hến đó dường như chỉ là sự khởi đầu cho những mùa quả ngọt tiếp theo.