Hiện nay, Tòa án đang giải quyết rất nhiều vụ án tranh chấp về chia di sản thừa kế, góp phần giải quyết dứt điểm tài sản của người chết để lại, nhằm bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, qua đó góp phần ổn định quan hệ xã hội.
Tuy nhiên một vấn đề đặt ra người được chia di sản (thuộc trường hợp được miễn án phí) sau đó tặng cho phần di sản của mình (gọi là người tặng cho không thuộc trường hợp được miễn án phí) cho người khác (gọi là người được tặng cho, mà người này đủ tuổi được miễn án phí) theo điểm b Nghị quyết 326 thì người được cho có phải chịu án phí không?
Để giải quyết vấn đề trên, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định: “Đối với vụ án liên quan đến chia tài sản chung, di sản thừa kế thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau: a) Khi các bên đương sự không xác định được phần tài sản của mình hoặc mỗi người xác định phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản của mình trong khối di sản thừa kế là khác nhau và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó thì mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia, được hưởng trong khối tài sản chung hoặc trong khối di sản thừa kế...”.

Tuy nhiên vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau nên dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất. Cụ thể:
Có quan điểm cho rằng người được tặng cho di sản thuộc trường hợp được miễn án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thì họ được miễn án phí đối với phần được hưởng và phần được người khác nhường (tặng cho), vì việc miễn án phí áp dụng cho đối tượng hưởng chứ không theo phần tài sản được hưởng.
Quan điểm của chúng tôi: Phải phân định rõ ràng có hai trường hợp xảy ra, trường hợp người được chia tài sản, chia thừa kế từ chối không nhận, tài sản, di sản được chia cho người còn lại. Người được chia, được hưởng di sản trong trường hợp này nếu thuộc trường hợp được miễn án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thì họ được miễn án phí đối với phần được chia. Trường hợp thứ hai, nếu họ vẫn yêu cầu chia di sản mà họ mới tặng cho người khác thì người được tặng cho chỉ được miễn án phí nếu trường hợp người cho họ cũng được miễn án phí. Trường hợp người cho không thuộc trường hợp được miễn thì người được tặng cho vẫn phải chịu án phí đối với phần người khác cho mặc dù họ thuộc trường hợp được miễn.
Ví dụ: Bố mẹ của A, B, C, D để lại di sản là quyền sử dụng đất trị giá 800 triệu đồng. Trong trường hợp thứ nhất C, D từ chối không nhận di sản, do đó di sản thừa kế chia đều cho A, B mỗi người được hưởng 400 triệu, B đủ điều kiện được miễn án phí nên được miễn theo NQ 326/NQ-UBTVQH14.
Cũng trong trường hợp trên, A, B, C, D yêu cầu chia đều di sản; C, D nhận phần chia của mình sau đó cho B; C, D không thuộc trường hợp được miễn án phí, thì B phải chịu án phí trên kỷ phần mà C, D cho.
Tác giả kính mong các Thẩm phán, Kiểm sát viên, luật sư và các chuyên gia pháp lý quan tâm trao đổi, phân tích thêm về vấn đề này. Qua đó, góp phần làm rõ căn cứ pháp lý và thống nhất nhận thức trong thực tiễn xét xử. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, trao đổi của bạn đọc.