Kinh tế

Sáu chuyển đổi lớn về tư duy phát triển kinh tế có vốn FDI

Trang Nhi 30/06/2026 14:46

Sáu điểm đổi mới tư duy cho thấy, nếu trước đây trọng tâm là thu hút các nguồn vốn quốc tế, thì trong giai đoạn mới, mục tiêu cao hơn là phát huy hiệu quả các nguồn lực...

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho biết, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 nhằm chuyển từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

kinh-te-tu-nhan5-15-17-50abc-1746472197730950383192-1746495748161-17464957486782013429722-17517935897851877403552.jpg
Ảnh minh họa

Nghị quyết xác định 6 quan điểm chỉ đạo, trong đó khẳng định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia; phát triển khu vực này gắn với nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu; chuyển mạnh từ tư duy thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ và giá trị gia tăng làm tiêu chí chủ yếu; phát triển đồng bộ hệ sinh thái đầu tư nước ngoài gắn với doanh nghiệp trong nước, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc gia và khu thương mại tự do; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, kiến tạo của Nhà nước và điều phối ở tầm quốc gia.

Từ đó, tạo ra 6 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển kinh tế.

Thứ nhất, chuyển từ tư duy thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết tiếp cận toàn diện hơn, bao quát cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn và các thiết chế tài chính quốc tế; coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, phát triển hài hòa với khu vực kinh tế trong nước để phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia.

Thứ hai, chuyển từ coi trọng quy mô vốn sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Trọng tâm không còn là thu hút nhiều dự án hơn, mà là lựa chọn các dự án có công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại, có khả năng lan tỏa và đóng góp thiết thực vào nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Thứ ba, chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi theo kết quả. Chính sách ưu đãi được đổi mới theo hướng gắn với việc thực hiện các cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.

Thứ tư, chuyển từ phát triển FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế. Đây là điểm mới nổi bật của nghị quyết khi đặt đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế và các không gian phát triển mới (như khu thương mại tự do, các đặc khu kinh tế,...) trong một chỉnh thể thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực.

Thứ năm, chuyển từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư và phát triển. Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để tạo môi trường thuận lợi cho các nguồn lực trong nước và quốc tế cùng phát triển.

Thứ sáu, chuyển từ cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương sang điều phối phát triển ở tầm quốc gia...

Theo sáu điểm đổi mới trên cho thấy nếu trước đây trọng tâm là thu hút các nguồn vốn quốc tế, thì trong giai đoạn mới, mục tiêu cao hơn là phát huy hiệu quả các nguồn lực đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới, nâng cao năng lực tự chủ, năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Sáu chuyển đổi lớn về tư duy phát triển kinh tế có vốn FDI