Phóng sự - Ghi chép

Những tờ giấy trắng trước nỗi lo không màu

Xuân Thao 01/05/2026 - 16:34

Cuối tháng Tư, gió Lào hun rát từng khoảng sân, hong khô cả những giọt mồ hôi trên vai người thợ. Ở làng Phong Phú (phường Vinh Lộc, Nghệ An), giữa cái nắng khắc nghiệt ấy, những khuôn giấy dó vẫn lặng lẽ xếp hàng dưới trời, mỏng manh mà bền bỉ.

Ít ai biết rằng, phía sau những tờ giấy mỏng manh, trắng đục ấy là câu chuyện dài về một làng nghề từng vang danh khắp vùng.

Ký ức một thời vàng son

Làng nghề giấy dó Phong Phú được công nhận là làng nghề cấp tỉnh từ tháng 12/2007. Nhưng với người dân nơi đây, nghề làm giấy dó không bắt đầu từ một mốc thời gian cụ thể nào, mà đã hiện diện tự bao đời trong ký ức làng.

Không ai còn nhớ chính xác nghề có từ khi nào, chỉ biết rằng, khi những người cao niên hôm nay còn là những đứa trẻ, tiếng chày giã dó đã vang lên đều đặn từ sớm tinh mơ, theo chân người thợ suốt một ngày dài, trở thành âm thanh quen thuộc, gần gũi như nhịp thở của làng quê.

z7780766528834_74900762baabd94f5334d8e1f35f1642.jpg
Nghề làm giấy dó từng nuôi sống hàng trăm hộ dân, nay chỉ còn lại 3 hộ lặng lẽ gìn giữ.

Từ âm thanh bình dị ấy, nghề giấy dó lớn lên và gắn bó với đời sống của người dân Phong Phú qua nhiều thế hệ. Đã có một thời, giấy dó nơi đây nức tiếng gần xa. Thương lái từ Thanh Hóa, Hà Tĩnh… tìm về tấp nập, đặt mua cho bằng được. Từ giấy viết chữ nho, làm quạt, quấn hương trầm đến dán cá biển, sản phẩm nào cũng tiêu thụ nhanh chóng, “đắt như tôm tươi”.

Nghề giấy khi ấy không chỉ mang lại nguồn thu nhập ổn định cho hàng trăm hộ dân mà còn góp phần tạo nên bản sắc riêng, làm nên cái tên Phong Phú trong ký ức của nhiều vùng quê lân cận.

Thế nhưng, cùng với sự chuyển mình của thị trường và nhịp sống hiện đại, thời vàng son ấy dần lùi xa. Những xưởng giấy xưa thưa dần theo năm tháng, tiếng chày giã dó cũng không còn rộn ràng như trước, nhường chỗ cho những lựa chọn mưu sinh mới ổn định hơn.

Nghề cũ vẫn còn đó, nhưng đã lặng lẽ hơn, co mình trong vài nếp nhà, tồn tại không chỉ như một kế sinh nhai mà còn như cách người làng níu giữ ký ức của cha ông, giữ lại một phần hồn cốt đã từng làm nên diện mạo của cả một vùng quê.

Những người giữ lửa lặng thầm

Giữa vòng xoáy mai một của làng nghề, Phong Phú giờ đây chỉ còn vỏn vẹn ba hộ gia đình bám trụ với giấy dó. Điều đáng nói, những người giữ nghề đều đã bước qua tuổi lục tuần cái tuổi lẽ ra được nghỉ ngơi, nhưng vẫn lặng lẽ gắn mình với từng khuôn giấy, từng mẻ dó như một phần không thể tách rời của đời sống.

z7780766568780_80c3604c73f299618ef14ea406ab8556.jpg
Người dân tận dụng ngày nắng để phơi giấy dó, công đoạn quan trọng trước khi hoàn thiện sản phẩm.

Trong khoảng sân nhỏ ngập nắng, bà Nguyễn Thị Loan (66 tuổi) vẫn đều đặn xếp từng khuôn giấy, động tác chậm rãi nhưng thuần thục. Hơn bốn thập kỷ gắn bó, với bà, nghề giấy dó không chỉ là kế sinh nhai mà còn là ký ức gia đình được nối dài qua nhiều thế hệ. “Nhà tôi làm nhiều nhất, rồi đến nhà bà Tâm và một nhà nữa.

Nghề này ông bà để lại, bỏ thì tiếc lắm”. Một thoáng lặng, bà tiếp lời như để giãi bày nỗi niềm: “Giờ đầu vào không ổn định, đầu ra cũng bấp bênh. Người ta bỏ nghề hết, con cháu thì đi làm xa, chẳng ai theo nữa”.

Làm giấy dó không nặng nhọc theo kiểu lao động cơ bắp, nhưng lại đòi hỏi sự bền bỉ và tỉ mỉ đến từng công đoạn. Từ tờ mờ sáng đến khi chiều muộn buông xuống, người thợ đi qua một chuỗi công việc nối tiếp nhau: Tước vỏ, luộc, phơi, nấu với vôi, vo rửa, giã nhuyễn, đãi nước… trước khi đến công đoạn cuối cùng là seo giấy. Mỗi khâu đều cần sự kiên nhẫn và khéo léo, như một phép thử với người làm nghề.

Đặc biệt, việc cạo vỏ cây niệt phải thật kỹ để giữ được màu trắng mịn đặc trưng. Chỉ một chút sơ sẩy, tờ giấy có thể bị ố, mất đi vẻ đẹp vốn có. Đến công đoạn seo giấy - phần việc tưởng nhẹ nhàng lại chính là “linh hồn” của cả quy trình.

z7780766556700_796e166bb08ccfe7ab83a885783d3e32.jpg
Những tờ giấy dó thủ công - kết tinh từ sự tỉ mỉ và kinh nghiệm của người thợ.

Người thợ phải căn chỉnh lượng bột, độ dày, độ đều qua từng lần nhấc khuôn. Khi khuôn khô, bóc ra là một tờ giấy mỏng, dai, trong là kết tinh của cả một ngày lao động cần mẫn.

Dẫu vất vả là vậy, thu nhập từ nghề lại rất khiêm tốn. Những ngày thuận nắng, mỗi hộ cũng chỉ kiếm được vài trăm nghìn đồng. Với mức giá phổ biến khoảng 5.000 đồng mỗi tờ, chỉ những đơn hàng đặc biệt phục vụ thủ công mỹ nghệ hay nghệ thuật mới có giá cao hơn. Nghề vẫn còn đó, nhưng không còn là lựa chọn hấp dẫn trong bối cảnh nhiều công việc khác mang lại thu nhập ổn định hơn.

Bà Trương Thị Hải một trong những người còn gắn bó với nghề chia sẻ: “Làm nghề này phải biết tranh thủ. Ngày mưa thì làm vỏ, ngày nắng thì tráng giấy. Không nặng, nhưng phải kiên trì”. Bà dừng lại, rồi nói thêm, như một sự thật khó tránh: “Cũng vì cái kiên trì ấy mà giờ lớp trẻ không còn mấy ai mặn mà nữa”.

Giữa khoảng sân phơi nắng, những tờ giấy dó vẫn trắng đục, mềm mịn như xưa. Chỉ có điều, những con người đứng sau chúng đang ngày một ít đi, và nỗi lo về sự đứt gãy của một làng nghề cũng vì thế mà hiện rõ hơn bao giờ hết.

Nỗi lo đứt gãy một làng nghề

Hiện nay, giấy dó Phong Phú đã hiện diện trong không gian trưng bày của Bảo tàng Nghệ An như một minh chứng cho giá trị văn hóa lâu đời của một làng nghề. Thế nhưng, ngoài đời sống, nghề lại đang đối diện với nguy cơ mai một ngày càng rõ rệt.

z7780766588178_7b4c0d3d06281eca7c805f0e952e10ce.jpg
Nguyên liệu từ vỏ cây niệt được xử lý công phu để tạo nên giấy dó truyền thống.

Từ chỗ từng có hàng trăm hộ gắn bó, đến năm 2016 vẫn còn khoảng 120 hộ sản xuất, thì nay chỉ còn vỏn vẹn ba hộ duy trì. Sự thu hẹp nhanh chóng ấy không chỉ là con số, mà còn phản ánh những khó khăn chồng chất: Nguyên liệu ngày càng khan hiếm, thị trường tiêu thụ thu hẹp, thu nhập bấp bênh khiến nghề dần mất đi sức hút.

Theo bà Hoàng Thị Xuyến, chuyên viên Phòng Kinh tế - Hạ tầng Đô thị phường Vinh Lộc, việc duy trì nghề hiện nay gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nỗ lực tự thân của các hộ dân. Dù đã được công nhận là làng nghề, song thiếu những cơ chế hỗ trợ thiết thực và ổn định khiến giấy dó Phong Phú vẫn loay hoay tìm lối đi, chưa thể tạo dựng được hướng phát triển bền vững.

Giữa khoảng sân phơi lặng gió, những tờ giấy dó vẫn trắng đục, mềm mịn như thuở nào, giữ nguyên vẻ đẹp mộc mạc đã từng làm nên danh tiếng. Nhưng phía sau vẻ bình yên ấy là nỗi lo về sự đứt gãy của một nghề truyền thống hàng trăm năm tuổi.

Ba hộ dân, ba mái đầu đã bạc, vẫn ngày ngày cần mẫn bên những khuôn giấy. Họ làm nghề không chỉ để mưu sinh, mà còn như một cách gìn giữ ký ức của làng, giữ lại phần hồn cốt mà cha ông đã trao truyền.

Thế nhưng, ký ức dẫu bền bỉ đến đâu cũng khó có thể thay thế sức trẻ và sự tiếp nối. Khi lớp người kế cận không còn mặn mà, khi sinh kế không đủ níu chân, tương lai của làng nghề vì thế càng trở nên mong manh.

Trong đời sống hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ phai nhạt, câu chuyện của làng giấy dó Phong Phú gợi lên không ít trăn trở. Làm sao để những nghề xưa không chỉ dừng lại trong không gian trưng bày, mà còn có thể sống được trong đời sống hôm nay? Làm sao để lao động thủ công với tất cả sự cần mẫn, tinh tế và bền bỉ tiếp tục được trân trọng và nuôi dưỡng?

Giữ nghề, suy cho cùng, không chỉ là giữ một phương thức sản xuất, mà còn là giữ lại bản sắc văn hóa của một vùng đất, giữ lại những lớp ký ức đã bồi đắp nên hồn cốt làng quê qua bao thế hệ.

Nhưng để một nghề sống được, ký ức thôi là chưa đủ. Nghề cần có chỗ đứng trong đời sống hôm nay, cần những bàn tay tiếp nối và một sinh kế đủ sức níu chân người ở lại.

z7780766597027_e7a40c8b226133950897d86b23edb0e5.jpg
Nghề giấy dó - từng là sinh kế chủ lực của hàng trăm hộ dân, nay đứng trước nguy cơ thất truyền.

Trong Ngày Quốc tế Lao động, khi những giá trị của lao động chân chính được tôn vinh, câu chuyện về những người thợ giấy dó Phong Phú vì thế càng trở nên lặng lẽ mà sâu sắc. Họ không chỉ làm ra những tờ giấy, mà còn âm thầm gìn giữ một phần di sản văn hóa, bằng chính sự cần mẫn và bền bỉ của mình.

Giữa khoảng sân nắng, những tờ giấy dó vẫn trắng mịn, mỏng nhẹ như xưa, nhưng phía sau đó là bao nỗi lo chưa gọi thành tên. Cũng chính từ những điều mong manh ấy, người ta càng nhận ra giá trị của lao động thứ đã và đang giữ lại những gì tưởng chừng dễ dàng trôi đi trong dòng chảy của thời gian.

Bởi đôi khi, điều còn lại không chỉ là một sản phẩm, mà là dấu vết của những con người đã sống, đã gắn bó và đã lặng lẽ giữ nghề như cách những tờ giấy dó, dẫu mỏng manh, vẫn bền bỉ đi qua năm tháng.

(0) Bình luận
Nổi bật
Những tờ giấy trắng trước nỗi lo không màu