Họ là những cựu chiến binh đã bước vào tuổi “bách niên giai lão”, đã cống hiến trọn đời cho lý tưởng cách mạng và độc lập, tự do của dân tộc. 72 năm về trước, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ khoác ba lô lên đường nhập ngũ rồi cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Kết thúc chiến tranh, có rất nhiều người trong số họ chọn Mường Trời làm nơi sinh cơ lập nghiệp để rồi sống tiếp 72 trang đời đầy vẻ vang, trụ cùng tuế nguyệt, chứng kiến non sông, cơ đồ ngày một rạng rỡ, phồn vinh.

Người tham gia đánh A1 bằng bộc phá
Năm 1949, nghe theo lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ, cụ Phạm Bá Miều (SN 1930, quê làng lúa Thùy Dương, Thái Thụy, Thái Bình cũ) lên đường nhập ngũ. Suốt những năm tháng sau đó, bước chân trường chinh của chàng thanh niên quê lúa trải khắp dải đất Cao – Bắc – Lạng đến Thượng Lào, Hạ Lào, rồi cuối cùng quay trở về giải phóng Lai Châu.
Tháng 3/1954, cụ Miều được cấp trên điều về Đại đội 76, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với chức vụ Tiểu đội trưởng.
Ngày đó, từ chỗ đơn vị cụ Miều đóng quân nhìn xuống, vùng lòng chảo Điện Biên hết sức to lớn và đồ sộ. Cứ điểm quân sự Điện Biên Phủ khác hoàn toàn so với tất cả các cứ điểm mà cụ đã từng chinh chiến. Ở đây, quân địch bố trí công sự, hệ thống giao thông hào kiên cố, xe tăng, máy bay rất hiện đại và đồ sộ.
Cụ Miều kể: “Lúc đó, bộ đội ta phần lớn chỉ có vũ khí thô sơ, trong khi địch được trang bị toàn những vũ khí tối tân, hiện đại. Sau nhiều ngày quan sát thực tế, chúng tôi nhận định đánh trận này sẽ rất khó khăn, thế nhưng tất cả các đơn vị đều sẵn sàng xung trận. Với phương châm “đánh nhanh thắng nhanh”, Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ nêu rõ quyết tâm phải tiêu diệt địch trong vòng 5 – 7 ngày”.

Tuy nhiên, sau vài trận đánh ác liệt, bộ đội ta vẫn không thể nào xuyên thủng được hàng phòng thủ của địch. Trong khi đó quân Pháp liên tục được tăng cường lực lượng xuống Điện Biên Phủ, tuyến phòng ngự của chúng ngày càng kiên cố.
Thấy vậy, Sở chỉ huy chiến dịch đã quyết định thay đổi phương châm tác chiến sang “đánh chắc, tiến chắc”, phân bố lực lượng, bao vây, cắt đứt liên lạc giữa các cứ điểm của địch và tiêu diệt từng cứ điểm một.
Trung đoàn 174 được giao nhiệm vụ đánh chiếm đồi A1, nơi Sở chỉ huy cứ điểm Điện Biên Phủ của quân Pháp đóng quân. Đồi A1 lúc bấy giờ có tất cả 4 hướng lên, trận địa ở đây được quân Pháp bố trí rất chặt chẽ và kiên cố. Phía dưới chân đồi là tầng tầng lớp lớp hàng rào dây thép gai dày 4m, cao 1m kèm theo 2 xe tăng bảo vệ. Phía trên đồi, cứ 20m quân Pháp đặt 1 lô cốt kiên cố, trên mỗi lô cốt có 2 khẩu đại liên “chéo cánh sẻ” đua nhau bắn phá.
Cụ Miều nhớ lại: “Ở dưới đất thì có xe tăng quần, trên trời 4 – 5 chiếc máy bay thi nhau ném bom, nã đạn, có nhiều lúc chúng tôi đánh chiếm được nữa quả đồi nhưng lại bị nó đánh bật ra. Hai bên cứ dền dứ, dành giật nhau từng tức đất, từng đoạn giao thông hào ở trên đồi A1 như thế”.
Một ký ức trong trận đánh Đồi A1 mà cụ Phạm Bá Miều không thể nào quên, đó là khi Tiểu đội của cụ được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ quan trọng là đánh chiếm đồi A1 bằng bộc phá vào đêm 6/5/1954.
Lúc đó Sở chỉ huy chiến dịch nhận định, bộc phá là chìa khóa để tiêu diệt cứ điểm Đồi A1. Thế nên hàng trăm chiến sỹ thay nhau đào hầm ngầm để tiếp cận vị trí chiến lực. Phải mất 13 ngày anh em mới hoàn thành đường hầm ngầm và đặt khối bộc phá nặng 960kg. Trong suốt quá trình đào hầm, nhiều người đã hy sinh vì bị ngạt.
Cụ Miều kể: “Đêm 6/5/1954, chúng tôi được lệnh kích nổ khối bộc phá, tiêu diệt gần một đại đội của địch. Đồng thời, trước khí thế hừng hực, trước tiếng hô xung kích dậy đất của quân ta, số quân địch còn lại hết sức choáng váng, chống cự yếu ớt. Thừa cơ, Trung đoàn 174 đánh chiếm toàn bộ cứ điểm A1 chỉ trong vài tiếng đồng hồ. Bên cạnh đó, tiếng nổ của khối bộc phá trên còn là hiệu lệnh tổng công kích đợt cuối cùng của Chiến dịch Điện Biên Phủ”...
Sau khi giải phóng Điện Biên, cụ Miều xây dựng gia đình và cùng một số đồng chí, đồng đội ở lại mảnh đất Điện Biên để phát triển kinh tế.
“Lúc bấy giờ Điện Biên khó khăn chồng chất. Chiến tranh tàn phá khắp nơi, lòng chảo Mường Thanh đâu đâu cũng là hố bom, hố bộc phá. Lại hoang vu nữa. Thế nhưng nghĩ là nhiều đồng đội của mình còn nằm lại ở đất này, tôi không dứt đi được”, cụ Miều tâm sự.
Cũng chính vì nặng lòng với xứ Mường Trời, thế nên cụ Miều và gia đình quyết định gắn bó với mảnh đất Điện Biên. Sau khi về hưu, phát huy tinh thần của người lính cụ Hồ, cụ Miều tích cực tham gia vào các hoạt động đoàn thể ở phường và tổ dân phố nơi mình sinh sống.
Phát huy tinh thần Bộ đội cụ Hồ
Nhập ngũ cùng năm với cụ Miều, cụ Nguyễn Hữu Chấp (SN 1931, quê ở Phú Thọ) được phiên vào đại đội 290, tiểu đoàn 166, trung đoàn 209, đại đoàn 312. Trước khi hành quân lên tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, cụ đã từng tham gia 7 chiến dịch với 28 trận đánh lớn nhỏ. Chính điều ấy đã cho người lính quê miền trung du trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm để rồi cùng đồng đội làm lên chiến thắng chấn động địa cầu.
Cụ Chấp kể, từ lúc nhận lệnh hành quân tham gia chiến trường Điện Biên Phủ, cụ và những người đồng đội chỉ mong sao được thật nhanh được đến sào huyệt cuối cùng của bọn thực dân Pháp và muốn thử sức mình với cái pháo đài bất khả xâm phạm. Bởi với những loại vũ khí tối tân hiện đại, thực dân Pháp đã từng huênh hoang tuyên bố: Cứ điểm Điện Biên Phủ của chúng sẽ là cối xay thịt, sẽ nghiền nát bất cứ và tất cả đội quân nào, dù là tinh nhuệ nhất.

Khi đặt chân lên mảnh đất Điện Biên, cụ Chấp được giao chức vụ Khẩu đội trưởng Khẩu đội cối 82, với nhiệm vụ quan trọng trong trận đánh mở màn chiến dịch. Lệnh của cấp trên yêu cầu phải thật bất ngờ nhằm vô hiệu hóa kẻ địch, tiêu diệt hoàn toàn đồn bốt tại cứ điểm Him Lam.
Với quyết tâm đánh trận đầu chỉ được thắng không thể thua, tất cả Khẩu đội của ông viết tâm thư, và chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã đến tận nơi động viên giao nhiệm vụ.
Lúc bấy giờ, với vị trí "'đầu sóng ngọn gió'' nên Him Lam được Pháp xây dựng thành vị trí kiên cố bậc nhất của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là 1 trong 3 trung tâm đề kháng tại cửa ngõ Tập đoàn cứ điểm. Him Lam được quân Pháp xây dựng trên điểm cao gần 500m, gồm 3 cứ điểm trên 3 quả đồi nằm giáp cánh đồng Mường Thanh, án ngữ con đường Tuần Giáo - Điện Biên, cách phân khu trung tâm 2,5km.
Để có thể tạo bất ngờ, Khẩu đội của cụ Chấp được lệnh ngày đêm đào đường hầm ngầm dài 5 km từ Tà Lèng vào đến gần đồi Him Lam. Suốt ròng rã nửa tháng trời, cụ cùng với đồng đội vật lộn với bùn đất, ai cũng động viên nhau cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ, chia sẻ với nhau từ bát nước, miếng cơm...
Và rồi niềm vui của cụ Chấp và những đồng đội của mình vỡ òa vào sáng ngày 13/3/1954, khi đường hào đã hoàn thành. Đó cũng là lúc Khẩu đội cối 82 ly nhận được mệnh lệnh đợi đến tối sẽ khai hỏa.
Cụ Chấp và những người đồng đội mình có lẽ không bao giờ quên được những giây phút chờ đợi hồi hộp, mong đợi lúc được bật lên khỏi lòng đất, nã những phát đạn vào những pháo đài mà kẻ thù rêu rao là bất khả xâm phạm.
Cái khoảnh khắc lịch sử ấy rồi cũng đến. Đúng 19 giờ ngày 13/3/1954, cụ Chấp được lệnh nổ phát đạn đầu tiên rồi cùng đồng đội tấn công Him Lam. 40 khẩu pháo cỡ 75 đến 120mm đồng loạt nhả đạn, 1 viên đạn pháo rơi trúng Sở chỉ huy Him Lam, giết chết thiếu tá chỉ huy trưởng Paul Pesgot cùng với 3 sĩ quan khác.
Thế nhưng bất ngờ khẩu cối của khẩu đội cụ Chấp bị đạn của địch bắn mẻ lòng, 2 đồng đội hy sinh, 5 người bị thương nặng. Nhưng với ý chí quyết tâm thắng giặc bằng mọi giá, cụ đã cho điều chỉnh lại thước ngắm để tiếp tục chiến đấu.
Vài tiếng sau, quân địch ở đồi Him Lam hoàn toàn bại trận, quân ta đã tiêu diệt gần 300 địch, bắt sống 200 tù binh. Chiến thắng Him Lam là chiến thắng đầu tiên của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trận thắng ấy đã cổ vũ rất lớn tinh thần chiến đấu của bộ đội ta trên khắp các mặt trận.

Hết chiến tranh, cụ Chấp không quay về Phú Thọ mà quyết định ở lại Điện Biên, vì lời hứa với anh em, với đồng đội là hòa bình sẽ chọn mảnh đất này làm quê hương thứ 2. Suốt những năm tháng sau đó, cụ luôn cố gắng làm tròn trách nhiệm với rất nhiều đồng đội đã ngã xuống, đó là đưa hài cốt của họ về quê hương an nghỉ.
Cụ Chấp ngậm ngùi: “Trong suốt những năm tháng chiến đấu, rất nhiều đồng đội tôi đã nằm xuống đất này. Cùng chiến đấu, cùng san sẻ vui buồn, rồi phải chứng kiến từng người hy sinh. Đau đớn lắm. Những kỷ vật quan trọng trong những năm tháng đó, tôi vẫn giữ nguyên vẹn. Như tấm bản đồ Điện Biên Phủ thời Pháp chẳng hạn. Giữ để sau này dùng vào việc xác định nơi những người đồng đội của tôi đã nằm lại”.
Và cũng chính vì nặng lòng với Điện Biên, muốn làm nốt phần việc nghĩa tình với đồng đội như thế nên không chỉ có cụ Miều, cụ Chấp, mà còn có rất nhiều cựu chiến binh từng tham gia vào Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm xưa chọn ở lại để cùng chung tay làm “hồi sinh” xứ Mường Trời. Dẫu cuộc sống thời hậu chiến phải đối mặt với trăm ngàn thiếu khó, song dù ở hoàn cảnh nào, họ vẫn luôn giữ vững và phát huy tinh thần Bộ đội cụ Hồ.