Mê đắm cồng chiêng

Nguyễn Trung Thành | 11/02/2016, 06:00

Dường như tiếng cồng, chiêng, tiếng réo rắt của các nhạc cụ truyền thống của vùng đất cao nguyên này đã thổi đẩy những nghệ nhân quê mùa, lam lũ kia bay đi khắp nhân gian, phủ lên họ một thứ ánh sáng rộn ràng khác, khiến ta không còn nhận ra họ nữa.

Song, chính lúc đó, họ mới đích thị là họ nhất. Lúc đó, họ tài hoa và hào hoa như vốn có. Lúc đó, họ giống như những đứa con kiêu hãnh của núi rừng.

1. Trên cao nguyên bazan hùng vĩ, có biết bao điều huyền diệu mà mỗi người trong chúng ta chưa biết tới. Dẫu chỉ giản đơn là một tiếng gió về qua nóc nhà rông, tiếng thác Đăm ri ồn ào đưa nước bạc hay một tiếng tơ rưng, một nhịp đàn đá, một bước voi đi uy lẫm giữa đại ngàn, thì đó chính là những thanh âm riêng có của đất trời Tây Nguyên hội tụ. Giữa không gian ngập tràn tiếng nhạc trời xao xuyến ấy, có một thứ thanh âm riêng biệt tuyệt không thể lẫn vào đâu được. Chỉ cần nghe văng vẳng đâu đó tiếng vọng ngân của nó vút lên giữa núi rừng là biết ngay nơi ấy, làng ấy có sự kiện gì. Đó chính là tiếng cồng âm vang hồn đất mẹ, vía trời cha; là tiếng chiêng mang hồn núi, hồn sông, hồn suối, hồn rừng; là tiếng tù và rúc lên giữa bao la trời đất; và là nhịp xoang rộn ràng mang hơi thở của mỗi buôn làng.

Từ bao đời nay, cồng chiêng đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân Tây Nguyên. Nó là máu thịt, là tiếng nói tâm linh, là nơi truyền tải niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Hơn nữa, cồng chiêng còn là sợi dây gắn kết vững chắc giữa các thành viên trong gia đình, trong dòng tộc, trong các buôn làng trên mảnh đất bazan. Trong mỗi nhịp chiêng hay mỗi điệu cồng luôn hàm chứa sức mạnh, niềm tin của con người với đấng siêu nhiên, niềm tin vào cộng đồng, vào cuộc sống để từ đó có thêm hy vọng về một ngày mai tươi đẹp.

Mê đắm cồng chiêng

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiếc chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực và sức mạnh của vị thần càng cao. Hơn thế nữa, nó còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng vài con voi hoặc cả đàn trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian cổ xưa và huyền ảo. Và cũng từ cái không gian ấy đã góp phần hình thành nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên, vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.

Mỗi khi có lễ hội cồng chiêng, khắp đất trời Tây Nguyên như nghiêng ngả. Lúc ngọn lửa bập bùng được tấu lên, cũng là lúc lễ hội chính thức được bắt đầu. Các điệu nhảy, các màn múa chiêng, múa trống được các nghệ nhân, vũ công trình diễn một cách đắm say, nguyên thủy và hoang sơ nhất. Chỉ cần tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng hò hú cất lên, ta nghe như tiếng thác đổ ầm ào dội vào từ ghềnh đá, như tiếng mưa thống thiết ngoài thung, nhưng cũng có lúc mơ màng như tiếng chong chóng quay ngoài gió lộng cao nguyên với biền biệt hoa cúc quỳ nở rộ.

Mê đắm cồng chiêng

Tác giả cùng các “vũ công” người Bana

Các thiếu nữ người Bana, Ê – Đê, Brâu áo ló vai trần khoe các đường cong kín hở sau làn váy quấn nhún nhẩy, mắt lúng liếng tươi mơn, má căng đỏ vì rượu, vì chiêng, vì lửa và vì nhiều thứ nữa. Mỗi nhịp xoang, hàng trăm cánh tay nắm vào nhau nối rộng dài ra mãi. Tiếng cồng chiêng rộn ràng, tiếng hò reo ngân vang “khiến những con dúi lười còn ngủ quên dưới gốc le cũng phải giật mình ngơ ngác, làm con cá ngoài suối cũng phải ngừng bơi lội tung tăng”. Không hề mang nặng tính biểu diễn, không điệu đà, từ tiếng hát, tiếng hò hú đến những bước nhảy giản dị, lặp đi lặp lại vài động tác, nhưng “những diễn viên không chuyên” ấy, bằng sự hồn nhiên trong trẻo của mình, đã biến đêm hội cồng chiêng trở nên lung linh, huyền ảo và đắm say hơn bao giờ hết.

Những người đàn ông hôm qua còn còng lưng làm đất, chăm cây rừng thì hôm nay, lúc này, trong nhịp chiêng xoang, họ là những diễn viên thực thụ. Những người phụ nữ hôm qua còn cặm cụi hái măng, tra lúa, người đầm đìa mồ hôi thì giờ đây, cồng chiêng đã phủ lên họ một thứ ánh sáng rộn ràng, mê hoặc khác. Những cánh tay mềm mại, những vai trần, bắp đùi lóng lánh, những đôi mắt long lanh, cái long lanh, ngây thơ tinh khiết của kẻ chưa nếm chút bụi trần... Họ đẹp, đẹp tựa như ánh mặt trời. Người già nghe chiêng thì hồi tưởng lại quãng đời oanh liệt đã qua, trung niên thì vui múa, vui hát cho thỏa chí tang bồng, còn trai gái nhờ tiếng chiêng, cần rượu mà thầm thì hẹn ước...

Những chàng trai Ê đê, những cô gái Ba na, họ cứ nhảy, họ cứ múa và họ cứ hát, những bài hát của dân tộc mình được cha ông truyền lại từ nghìn đời trước, bất chấp ngoài kia đô hội, bất chấp ngoài kia tiếng điện thoại, tiếng còi xe vẫn mải miết rúc lên. Tiếng hát của họ khi thì rì rầm như nước suối, lúc ồn ào rầm rập như bước chân voi, chân ngựa, nhưng cũng có lúc chấp chới như cánh bướm ngoài rừng. Tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng nổ lép bép từ củi lửa dường như có một sức mạnh ma mị, vô hình nào đấy đã ngăn đẩy những xô bồ phố thị, không cho chúng chạm vào cái khối nguyên chất, hoang sơ, cổ xưa, thô nhám trong mỗi “diễn viên”, mỗi “vũ công” đang say mê trình diễn các “vũ điệu của núi rừng” kia. Họ cứ nhảy, họ cứ múa, và họ cứ hát...

Mê đắm cồng chiêng

2. Lẫn trong ánh lửa và nhịp đập Tây Nguyên đầy hoan say, mời gọi ấy, lời của già A Kim như thả thêm vào đêm non cao những xúc cảm hoang sơ, nguyên thủy nhất: “Hỡi thần sông, thần suối, thần rừng, hãy về đây chứng giám...”. Gương mặt A Kim lúc đó, như có một vầng ánh sáng chói lòa. Không rõ vầng sáng ấy được hắt lên từ cột lửa hồng mà ông vừa đại diện cho hàng vạn đồng bào ở vùng đất huyền thoại này đốt lên khai hội, hay là ánh sáng tỏa ra từ đôi mắt? Chỉ biết là vầng sáng ấy theo ông và dẫn dắt các “vũ công của núi” đi trong suốt đêm chiêng.

Đối với người dân trên vùng đất bazan này, Nghệ nhân dân gian A Kim chả khác gì “báu vật sống của đại ngàn”, là linh hồn của cồng chiêng Tây Nguyên. Không chỉ là một nghệ nhân ròn chiêng lão luyện, ông còn có khả năng chế tác và chơi được nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Và, ông cũng là một trong số ít “nghệ nhân chân đất” đã từng mang các bộ chiêng cổ cha ông để lại từ mấy trăm năm trước đi biểu diễn khắp trời Âu, Á. Chơi và chế tác các nhạc cụ, với A Kim, là một nhu cầu như cơm ăn nước uống, là cái gì đó hẳn nhiên như máu nóng chảy dưới da mềm của con người, của chính ông. Đến giờ, A Kim cũng chẳng nhớ mình đã đi bao nhiêu quốc gia, đã tấu lên bao nhiêu giai điệu nguyên sơ tối cổ của đại ngàn Tây Nguyên, chỉ biết rằng, sau khi được chiêm ngưỡng không gian văn hóa cồng chiêng quyến rũ đến ngỡ ngàng ấy, thế giới đã phải công nhận đây là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Từ khi còn là một cậu bé có cái chân biết đi kiếm măng le, cái miệng biết hát lời chim Chơ rao, tối về cầm sừng trâu chiêu nước vào trong bình rượu cần phục vụ các cụ trong buôn; từ lúc tự thấy mình là người đàn ông vâm váp, chạy ngược chạy xuôi mổ lợn, giết trâu, hiếu động gõ chiêng ào ào trong các đám ma tràn ngập rượu, A Kim đã được sống trong không gian đắm say và linh thiêng của cồng chiêng, của các nhạc cụ giản dị mà nhiệm màu. Cứ gõ mãi, gõ mãi, cứ bị các cụ mắng cho tơi bời vì tay lóng ngóng như rễ cây, tai ù đặc như phiến đá – tự khắc hồn chiêng sẽ dần dà ngấm vào.

Cứ thế, những âm thanh kia nó ngấm vào A Kim cũng như ngấm vào các chàng trai Tây Nguyên hào sảng yêu ca hát nhảy múa khác, từ mỗi đêm nổi lửa, từ mỗi ngày chăm sóc hũ rượu cần cho bề trên, từ khi thúc tiếng chiêng lên mừng một sinh linh ra đời hay khóc thương một người già hết cõi. Chỉ cần tay A Kim lướt nhẹ trên những núm chiêng, người nghe đã có thể thấy núi rừng, suối thác của Tây Nguyên ầm ào đến rất gần. Chỉ cần quả bầu, dăm ba ống nứa cùng vài vật dụng đơn sơ khác, A Kim đã có thể chế tác thành một loại nhạc cụ rồi thổi cái tài hoa của mình vào đó khiến nó ngân lên những âm thanh, giai điệu đầy mê dụ. Mỗi tiếng cồng, tiếng chiêng hay tiếng kèn biến hóa như ảo thuật của A Kim, tất cả đều mang tải những lớp lang văn hóa của một tộc người quý giá.

Mê đắm cồng chiêng

Già A Kim đốt lửa khai hội cồng chiêng

3. Cũng như nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, cổ xưa khác, trong cuộc va đập đến nghiệt ngã với thị trường giải trí vàng thau lẫn lộn, đã có lúc cồng chiêng Tây Nguyên chấp chới, đứng trước nguy cơ mai một. Trước hết phải kể đến sự suy giảm nhanh chóng về số lượng cồng, chiêng. Có những thời điểm, khi đến buôn làng nào trên đất Tây Nguyên, người ta cũng bắt gặp cánh lái buôn đồ cổ từ Hà Nội, Sài Gòn, thậm chí từ đất nước bạn Lào, Thái Lan, Ấn Độ sang để săn lùng chiêng quý. Và, cũng đã có rất nhiều người dân không thể cầm lòng trước những món tiền khổng lồ mà đành bán đi cổ vật.

Nguy cơ mai một cồng chiêng còn thể hiện ở các bài bản nhạc chiêng dần dần bị lãng quên. Các nghệ nhân trải qua thời gian, do nhiều tác động khác nhau đã quên nhiều bản nhạc chiêng. Ví như người Mnông trước đây có đến 40 bản nhạc chiêng thì nay các nghệ nhân chỉ còn nhớ, lưu truyền và trình diễn được 10 bản. Mặt khác, những nghệ nhân có đôi tai thẩm âm, có năng khiếu trong việc chỉnh và đánh chiêng cũng thưa vắng dần trong các cộng đồng cư dân. Điều đáng tiếc nữa đó là khi những người già, những nghệ nhân Tây Nguyên chết đi đã mang theo cả kho tàng di sản văn hoá cồng chiêng mà không dễ dàng tạo dựng và khôi phục được. Sự đứt gãy dòng chảy của văn hoá truyền thống đó đã dẫn đến sự thờ ơ, hờ hững của lớp trẻ với văn hoá của các thế hệ tiền nhân, trong đó có văn hoá âm nhạc cồng chiêng.

Nhưng cũng may, Tây Nguyên vẫn còn có những người tâm huyết với cồng chiêng như A Kim, như A Thút, Thao Long – già làng Đắc Mế (Bờ Y, Ngọc Hồi, Kon Tum). Từ nhiều năm nay, họ đã bỏ ra rất nhiều thời gian, công sức đi sưu tầm và truyền dạy cồng chiêng cho lớp trẻ nhằm phục hưng các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc. “Chiêng Tha là báu vật, là máu thịt của người Brâu. Cả Tây Nguyên không còn ở đâu nhiều chiêng Tha như người Brâu ở làng Đắc Mế này. Đã có đợt người ta lùng sục mua với giá mấy con bò một chiếc chiêng. Tôi đã phải đi từng nhà vận động người dân đừng bán đi kỷ vật của tổ tiên. Bởi chiêng là nơi lưu giữ văn hóa, bản sắc dân tộc mình, là chốn nương tựa, nơi neo giữ niềm tin tâm linh để chúng ta tiến tới sự ấm no và hạnh phúc. Bán chiêng, tức là đã bán đi cả linh hồn. Chiêng tha còn thì người Brâu còn”, Thao Long quả quyết.

Nhờ sự cố gắng nỗ lực của những lão “nghệ nhân chân đất” ấy, cùng nhiều chính sách, đề án bảo tồn được triển khai đồng bộ và đồng loạt, cồng chiêng đã và đang có dấu hiệu phục hồi. Nhiều lớp dạy cồng chiêng được mở ra, nhiều lễ hội được phục dựng, nhờ thế mà loại hình nghệ thuật đặc sắc này đang dần lôi kéo được lớp trẻ, một miền văn hóa cổ sơ của Tây Nguyên đích thực đang được hồi sinh, nhờ thế mà đêm hội cồng chiêng hôm nay mới quyến mời, đắm say đến vậy.

Đêm cứ trôi, trăng Tây Nguyên cứ lung linh, huyền ảo. Lửa vẫn bập bùng, vòng xoang vẫn rộn ràng, và nhịp chiêng vẫn lúc thì trầm lắng, thẳm sâu như lời tâm tình của đôi trai gái, lúc vang vọng, trầm hùng như lời gọi bạn từ trên núi cao, nhưng cũng có lúc đổ dồn như nước reo, lửa cháy, như tiếng sấm rền trong những cơn giông đầu hạ. Dường như, khi đã hòa mình vào không gian đắm say và linh thiêng của cồng chiêng, thì cũng là lúc những sắc dân của vùng đất bazan này tự tin và hào sảng nhất. Bản sắc ấy, niềm tin ấy, ở đâu và thời đại nào cũng luôn là một giá trị đầy kiêu hãnh.

Tiếng cồng âm vang hồn đất mẹ, vía trời cha; là tiếng chiêng mang hồn núi, hồn sông, hồn suối, hồn rừng; là tiếng tù và rúc lên giữa bao la trời đất; và là nhịp xoang rộn ràng mang hơi thở của mỗi buôn làng.

 

Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại là gì?

• Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại (tiếng Anh: Masterpieces of the Oral and Intangible Heritage of Humanity) - hay cũng thường gọi là Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới - là danh sách được UNESCO đưa ra để công nhận giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể trên thế giới. Danh sách này được bắt đầu năm 2001 với 19 di sản, năm 2003 danh sách có thêm 28 di sản. Danh sách tiếp theo được lập vào ngày 25 tháng 11 năm 2005.

• Mỗi di sản văn hóa phi vật thể muốn có tên trong danh sách phải được một hoặc nhiều quốc gia đề cử cho UNESCO trước khi được một ủy ban của tổ chức này xem xét khả năng đưa vào danh sách.

 

Bài liên quan
Hà Nột “bắt tay” vào phát triển công nghiệp văn hóa
Sáng 18/6, Thành ủy Hà Nội tổ chức Tọa đàm “Phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 - Thực trạng và giải pháp” nhằm lấy ý kiến các đại sứ, chuyên gia trong nước và quốc tế phục vụ công tác xây dựng Nghị quyết chuyên đề về phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô.

(0) Bình luận
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Mê đắm cồng chiêng