Vấn đề quan tâm

Luật sư có thể bị Chủ tịch UBND xã xử phạt trong những trường hợp nào?

Việt An 14/04/2026 - 16:52

Theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP, từ ngày 18/5, Chủ tịch UBND cấp xã sẽ có thêm thẩm quyền xử phạt luật sư và tổ chức hành nghề luật sư.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Một trong những nội dung đáng chú ý là theo quy định mới, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền xử phạt luật sư đối với hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư và hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư.

xu-phat-luat-su.jpg
Từ ngày 18/5, Chủ tịch UBND cấp xã sẽ có thêm thẩm quyền xử phạt luật sư và tổ chức hành nghề luật sư.

Cụ thể, Điều 8 của Nghị định quy định nhiều nhóm hành vi vi phạm trong hoạt động hành nghề luật sư với các mức xử phạt khác nhau, dao động từ 1 triệu đồng đến 40 triệu đồng.

Mức phạt tiền từ 1-3 triệu đồng đối với một trong các hành vi:

Không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ nghĩa vụ bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ.

Thông báo không đúng thời hạn cho Đoàn luật sư về việc đăng ký hành nghề, thay đổi nội dung đăng ký hành nghề.

Phạt tiền từ 3-7 triệu đồng đối với một trong các hành vi:

Thông báo không đầy đủ cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý.

Không đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hành nghề với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc không thông báo cho Đoàn luật sư về việc đăng ký hành nghề, thay đổi nội dung đăng ký hành nghề.

Phạt tiền từ 7-10 triệu đồng đối với một trong các hành vi:

Cung cấp dịch vụ pháp lý cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ngoài cơ quan, tổ chức mà luật sư đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên.

Thành lập hoặc tham gia thành lập từ hai tổ chức hành nghề luật sư trở lên.

Làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức khác bằng hình thức luật sư hành nghề với tư cách cá nhân ngoài tổ chức hành nghề luật sư mà luật sư đã thành lập, tham gia thành lập hoặc đã ký hợp đồng lao động.

Hành nghề luật sư không đúng hình thức hành nghề theo quy định.

Hành nghề luật sư với tư cách cá nhân mà không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong trường hợp hợp đồng lao động có thỏa thuận.

Không thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý.

Ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng không thông qua tổ chức hành nghề luật sư hoặc không có văn bản ủy quyền của tổ chức hành nghề luật sư.

Hành nghề khi chưa được cấp giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc vẫn hành nghề khi đã bị thu hồi giấy đăng ký hành nghề luật sư.

Phạt tiền từ 10-15 triệu đồng đối với một trong các hành vi:

Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư, giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam của luật sư nước ngoài, văn bản thông báo về việc đăng ký bào chữa, thông báo về việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Hành nghề tại Việt Nam khi giấy phép hành nghề của luật sư nước ngoài đã hết hạn.

Hành nghề luật sư với tư cách cá nhân mà không đăng ký hành nghề tại cơ quan có thẩm quyền.

Phạt tiền từ 15-20 triệu đồng đối với một trong các hành vi :

Hoạt động không đúng phạm vi hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam.

Cho người khác sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam để hành nghề luật sư.

Sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc sử dụng giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam của người khác để hành nghề luật sư...

Trong đó, một số hành vi có tính chất nghiêm trọng như xúc phạm danh dự, nhân phẩm người tiến hành tố tụng; hành nghề khi không có chứng chỉ; sách nhiễu, lừa dối khách hàng; hoặc cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng có thể bị phạt đến 30 triệu đồng.

Đặc biệt, các hành vi như cung cấp tài liệu giả, tiết lộ thông tin khách hàng, móc nối với người tiến hành tố tụng hoặc mạo danh luật sư có thể bị xử phạt ở mức cao nhất, từ 30 đến 40 triệu đồng.

Ngoài phạt tiền, luật sư còn có thể bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam từ 01 đến 03 tháng, tùy tính chất, mức độ vi phạm.

Tương tự, đối với hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, Nghị định quy định mức phạt tiền thấp nhất là 7 triệu đồng và cao nhất lên đến 50 triệu đồng.

Mức phạt cao nhất áp dụng đối với các hành vi như không đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư; chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật nước ngoài, chi nhánh của công ty luật nước ngoài tại Việt Nam với cơ quan có thẩm quyền; hoặc hoạt động, cung cấp dịch vụ pháp lý dưới danh nghĩa tổ chức hành nghề luật sư khi không đủ điều kiện theo quy định.

Ngoài hình thức phạt tiền, tổ chức vi phạm còn có thể bị đình chỉ hoạt động từ 03 đến 06 tháng trong một số trường hợp nghiêm trọng.

Về thẩm quyền xử phạt, Điều 84 của Nghị định nêu rõ Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 15 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình; và phạt tiền đến 25 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; đồng thời có quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Trong khi đó, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 30 triệu đồng đối với lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình; đến 40 triệu đồng đối với lĩnh vực phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; và đến 50 triệu đồng đối với lĩnh vực bổ trợ tư pháp; đồng thời có quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Đáng chú ý, cả Chủ tịch UBND cấp xã và cấp tỉnh đều có quyền đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý theo quy định.

Nghị định 109/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 18/5, thay thế toàn bộ Nghị định 82/2020/NĐ-CP.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Luật sư có thể bị Chủ tịch UBND xã xử phạt trong những trường hợp nào?