Báo Công lý
Thứ Tư, 21/10/2020

Thông tư liên tịch số 17 và kỷ niệm về một vụ án ma túy

Sự kiện: Cuộc vận động viết về những kỷ niệm sâu sắc của Thẩm phán
06/10/2020 10:00 UTC+7
(Công lý) - Phiên toà diễn ra như bao phiên toà khác. Nghiêm trang, kỷ luật theo quy định của tư pháp quân đội. Hộ tống Hội đồng xét xử là hai hàng quân cảnh dương lê sáng quắc đứng theo hình chữ V. Giọng vị Kiểm sát viên đanh thép, rắn rỏi....

Giọng vị Thẩm phán chủ toạ phiên tòa sang sảng, rành rẽ, truyền cảm nhưng chắc nịch. 4 bị cáo đứng trước vành móng ngựa trong phiên tòa phúc thẩm, tất cả đều nghèn nghẹn khi trình bày lời nói sau cùng:

- Thưa quý Toà, bị cáo không nghĩ đó là ma túy.

- Thưa quý Toà, bị cáo chỉ bán thuốc ngủ sedusen, mỗi lần vài viên cho người mắc chứng mất ngủ.

- Thưa quý Tòa, bị cáo chỉ bán sedusen cho người bệnh được bác sỹ kê đơn...

- Bị cáo xin quý Toà soi xét! Bị cáo không mua bán trái phép chất ma tuý! Bị cáo biết mình đã vi phạm pháp luật, nhưng... ma tuý thì không phải, thưa Tòa!

Những người dự phiên toà im lặng, suy tư. Trong số đó, có một ông già khắc khổ, dúm dó. Khuôn mặt ông nhầu nhĩ, đen đúa, lúc ngây dại, đớn đau, lúc ưu tư, hoảng hốt.

Lời tuyên án vừa dứt, ông già đổ gục, nấc lên một tiếng khô khốc, nghẹn lại nơi cổ họng. Không hiểu vì vết thương trên cơ thể ông gặp lúc trời trở gió? Vì cuộc sống mưu sinh vất vả nơi núi rừng? Hay vì ba đứa con ông - hai đứa con gái rứt ruột đẻ ra và một thằng con rể ngoan hiền vừa bị Hội đồng xét xử tuyên án về tội phạm liên quan đến ma túy. Có lẽ vì tất cả. Ông xấu hổ vì con ông phạm tội, lại là tội phạm gieo rắc “cái chết trắng” cho cộng đồng, để người đời nguyền rủa, khinh bỉ.

Thông tư liên tịch số 17 và kỷ niệm về một vụ án ma túy

Luật sư Nguyễn Thị Tuyết tại một phiên tòa

Người xét xử con ông vốn là đồng đội một thời nghĩa tình, gắn bó với ông trong những năm tháng chiến tranh. Nhưng ông tự trọng. Ông tự biết con mình dù sao vẫn có lỗi, vẫn vi phạm pháp luật, nên ông thấy nó cần phải bị pháp luật trừng phạt. Ông không oán trách, không gặp gỡ, không xin xỏ đồng đội cũ. Ông chỉ băn khoăn một điều đơn giản, tại sao các con ông bán thuốc an thần cho người mắc chứng mất ngủ mà lại bị truy tố và xét xử về tội phạm ma túy!?

Bản án phúc thẩm đã được tuyên vào cuối năm 2006. Hội đồng xét xử Tòa án quân sự Quân khu 2 đã quyết định không chấp nhận kháng cáo, “y án” sơ thẩm. Theo đó, 4 bị cáo Trần Duy Khương, Cầm Thị Việt, Ngô Thị Dần và Ngô Thị Thúy Ngọc bị kết án về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999, với hành vi mua bán trái phép thuốc hướng thần sedusen.

Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do được đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi hạn chế, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội nên họ đều được xem xét áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Ngoài ra, 2 bị cáo Ngọc và Dần có bố là thương binh, người có công với cách mạng nên được hưởng “án treo”, được trả tự do ngay tại phiên tòa. Còn con rể ông - bị cáo Trần Duy Khương chỉ bị tuyên phạt 3 năm tù do có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác. Bị cáo Cầm Thị Việt tuy là người dân tộc thiểu số nhưng thực hiện tội phạm với vai trò khởi xướng, nên chịu mức án 4 năm tù.

Phiên toà đã khép lại, người thương binh già rón rén bước tới bắt tay đồng đội - người vừa tuyên án con ông, nói những lời cảm ơn chân thật, rằng pháp luật đã cho các con ông và cho cả gia đình ông một bài học ý nghĩa trong cuộc đời về việc chấp hành pháp luật. Ông hiểu, đồng đội của ông chẳng dễ dàng gì khi tuyên một bản án có liên quan đến con của đồng đội. Nhưng “công pháp bất vị thân”, đó là nguyên tắc trong xét xử.

***

Dù không trực tiếp xét xử vụ án này, nhưng chứng kiến toàn bộ quá trình tranh tụng trong phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, tôi vô cùng trăn trở về việc kết tội đối với các bị cáo. Cũng như tôi, rất nhiều Thẩm phán thuộc Tòa án quân sự Quân khu 2 nhận thấy, truy tố và xét xử các bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa hẳn đã phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

Với tôi, nỗi niềm trăn trở ấy đã thôi thúc tôi viết nhiều bài gửi đăng Báo Pháp luật Việt Nam, Báo Quân khu 2. Khi các bài báo về vụ án được đăng tải, đã xuất hiện những ý kiến, dư luận trái chiều từ phía độc giả. Số đông độc giả cho rằng, bán thuốc ngủ cho người bệnh nếu không có giấy phép kinh doanh loại thuốc đó thì không thể khép họ vào tội phạm ma túy. Và trên thực tế, hành vi bán thuốc ngủ sedusen diễn ra khá phổ biến tại các nhà thuốc, nhưng hầu hết đều không bị xử lý bằng pháp luật.

Tại một số hội nghị, hội thảo khoa học tại Tòa án Quân sự các cấp, vấn đề này cũng được đưa ra tranh luận, bàn bạc. Nhưng ngặt một nỗi, khi Viện kiểm sát quân sự cấp khu vực thuộc Quân khu 2 đã truy tố thì Tòa án cùng cấp đã không tìm được căn cứ pháp lý để phủ nhận Cáo trạng. Đặc biệt, trong thực tiễn xét xử, đã có nhiều trường hợp tương tự cũng đã bị các Tòa án khác kết án về tội phạm ma túy. Cho nên, để tuyên bố các bị cáo trong vụ án này “không phạm tội” là điều không thể đối với các Thẩm phán Tòa án quân sự thuộc Quân khu 2. Chính vì vậy, dù đã nhiều lần lãnh đạo Tòa án quân sự Quân khu 2 chủ động trao đổi nghiệp vụ với lãnh đạo Viện Kiểm sát cùng cấp nhưng cuối cùng, Cáo trạng vẫn được giữ nguyên, và Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án quân sự Quân khu 2 vẫn phải “đóng dấu” y án sơ thẩm.

Và nỗi niềm trăn trở ấy còn xuất phát từ một điều khiến tôi không thể không nghĩ đến, rằng lời tuyên án đối với 4 con người hôm nay liệu có trở thành tiền lệ trong tố tụng tư pháp, để bất cứ ai có hành vi bán thuốc ngủ sedusen cho người mất ngủ, cũng sẽ phải chịu chung số phận là tội phạm ma túy?!. Từ suy nghĩ ấy, tôi đã tự đặt ra một nhiệm vụ cho mình, phải tìm được một con đường nào đó để giải thoát cho nỗi trăn trở của bản thân, cũng là tìm ra một căn cứ hợp pháp cho những con người đã nức nở trước lời tuyên án ấy.

Thông tư liên tịch số 17 và kỷ niệm về một vụ án ma túy

Luật sư Nguyễn Thị Tuyết (nguyên Phó Chánh Tòa phúc thẩm II, TAQS Trung ương, P. Giám đốc Công ty Luật TNHH Trung Cường, Đoàn Luật sư TP Hà Nội)

Và rồi, “tia sáng cuối đường hầm” đã lóe lên trong đầu tôi, đó là việc trợ giúp pháp lý miễn phí cho người có công với cách mạng. Thêm nữa, bị án Cầm Thị Việt cũng chính là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn tại khu vực Tây Bắc, là đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí. Vậy là một kế hoạch phối hợp giữa Tòa án quân sự Quân khu 2 và Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ được thực hiện.

Ngay sau khi thụ lý đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý của người thương binh già, Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ Nguyễn Văn Bình đã ký hàng loạt các Văn bản kiến nghị, với những lập luận logic, chắc chắn, có căn cứ thực tiễn và cơ sở lý luận trong việc kết án tội phạm ma túy đối với Trần Duy Khương cùng đồng phạm (theo khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999) và được gửi đến các cơ quan tiến hành tố tụng từ trung ương tới địa phương.

Bên cạnh đó, tôi và các đồng nghiệp Tòa án quân sự Quân khu 2 tiếp tục viết bài đăng báo Pháp luật Việt Nam, Tạp chí Tòa án Nhân dân, Tạp chí Kiểm sát dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Trong đó, các bài viết tập trung trao đổi, bình luận về những vướng mắc trong thực tiễn xét xử tội phạm ma túy, trong định tội đối với trường hợp bán thuốc ngủ sedusen cho người bệnh.

Nội dung những bài viết của chúng tôi đã trở thành đề tài sôi nổi trên các diễn đàn khoa học, thu hút khá nhiều các tác giả là Thẩm phán, Kiểm sát viên và nhiều chuyên gia pháp lý tham gia tranh luận; đã có tác động sâu sắc tới những người có thẩm quyền, có chức năng hướng dẫn áp dụng pháp luật về tội phạm ma túy tại các cơ quan tố tụng ở Trung ương. Đây chính là điểm nhấn quan trọng, đặt ra yêu cầu cấp thiết để các cơ quan chức năng nghiên cứu, ban hành văn bản quy phạm “dưới luật” giúp các Tòa án địa phương tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn truy tố, xét xử loại tội phạm về ma túy.

Một buổi sáng cuối năm 2007, khi đọc được Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT- BCA-VKSNDTC-TANDTC- BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, VKSNDTC, TANDTC Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma tuý” của BLHS năm 1999, tôi vui mừng nhận ra “Cẩm nang của đội ngũ Thẩm phán là đây”.

Nội dung Thông tư 17 đã chỉ rõ: Thuốc hướng thần nếu thuộc trường hợp được cả bên mua và bên bán phục vụ vào mục đích chữa bệnh, thì sẽ không bị coi là “chất ma tuý”. Điều đó đồng nghĩa với việc, vi phạm của các bị án Trần Duy Khương, Cầm Thị Việt, Ngô Thị Dần và Ngô Thị Thúy Ngọc, nếu được xét xử trong thời gian Thông tư số 17 có hiệu lực sẽ chỉ là vi phạm các quy định về kinh doanh thuốc chữa bệnh chứ không phải là tội phạm ma túy.

Điều đặc biệt với tôi, Thông tư 17 chính là kết quả của hơn một năm trời miệt mài nghiên cứu, đôn đáo phối hợp, xây dựng các bài viết lý luận pháp lý của tôi và các chuyên gia pháp luật trong và ngoài Tòa án; là kết quả của quá trình phối hợp chặt chẽ giữa Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ với Tòa án quân sự Quân khu 2 trong hoạt động tư pháp và nghiên cứu khoa học xét xử.

Hiểu rõ và cảm thông tình cảnh “một ngày tù ngàn thu ở ngoài”, lãnh đạo Toà án quân sự Quân khu 2 đã khẩn trương chủ động mời lãnh đạo Viện Kiểm sát cùng cấp họp bàn biện pháp giải quyết việc miễn chấp hành hình phạt “còn lại” cho các bị án thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư 17. Trong cơ quan, các cán bộ phụ trách thi hành án được phân công rà soát thận trọng và toàn diện tất cả các đối tượng được áp dụng Thông tư 17, dù đó là những bị án đang thụ hình trong các trại giam, đang thi hành hình phạt nhưng không phải là án tù, hoặc đã thi hành án xong mà chưa được xóa án tích...

Thế nhưng, việc áp dụng Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự (năm 2003) để có được văn bản “Đề nghị miễn chấp hành hình phạt” của Viện Kiểm sát cùng cấp cho các bị án đang thi hành án tại các trại giam (theo đối tượng Thông tư 17) là một vấn đề mà bản thân Tòa án Quân sự thuộc Quân khu 2 không thể tự mình quyết định.

Điều mà Quý Viện đặt ra là, các bị án đang thụ hình trong trại thuộc đối tượng của Thông tư 17 không thoả mãn điều kiện được miễn chấp hành hình phạt theo Điều 268 của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành. Và về mặt nguyên tắc áp dụng pháp luật, thì Thông tư 17 không có hiệu lực thay thế Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự. Vậy là lại mắc về vấn đề “nguyên tắc”.

Trong cơ quan, một vài người đã nghĩ tới chuyện “buông xuôi”. Thôi thì các bị án đã yên tâm “cải tạo”, không kêu oan, không khiếu nại, họ cũng chẳng biết cái anh “Thông tư Mười bảy” liên quan gì đến quyền lợi của họ. Còn ông già thương binh ấy, sau một thời gian không nhận được kết quả trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ, nên cũng đã buông tay. Mặt khác, khi Tòa án không nhận được văn bản đề nghị của Viện Kiểm sát cùng cấp theo quy định tại Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì Chánh án Tòa án Quân sự Quân khu 2 cũng không thể tự mình ban hành quyết định miễn chấp hành hình phạt “còn lại” cho bị án theo hướng dẫn của Thông tư 17. Vậy là, trách nhiệm không thuộc về Tòa án.

Phải làm sao đây? Tiếp tục hay buông bỏ? Mệnh lệnh của trái tim và lương tâm thôi thúc chúng tôi rằng: Trong điều kiện khả năng cho phép, bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của các bị án chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của người làm công tác Tòa án.

Một lần nữa, chúng tôi cần sự chung tay của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ để tháo gỡ “nguyên tắc”. Văn bản kiến nghị của Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ tiếp tục được gửi đi. Và thật tuyệt vời, ngay lập tức, các văn bản kiến nghị đó đã mang lại hiệu quả.

Với sự chỉ đạo quyết liệt của liên ngành các cơ quan tố tụng Trung ương, các bị án là đối tượng của Thông tư 17 đang cải tạo tại các Trại giam nhanh chóng được trả tự do. Người thương binh già bất ngờ nhận được cái tin đặc biệt: Hai đứa con gái ông già thương binh được miễn chấp hành thời gian thử thách còn lại của án treo; anh con rể được miễn chấp hành hình phạt tù còn lại, được trả tự do, tất cả các con ông được xóa án tích và được cơ quan cũ bố trí việc làm với ngành nghề như xưa. Tâm hồn ông như trẻ lại. Tiếng khèn trong bản nhỏ dường như lại réo rắt vang lên mừng ngày đoàn tụ của gia đình người thương binh già.

Bẵng đi một thời gian, tôi không có tin tức gì về những con người của phiên tòa ma túy cuối năm 2006 ấy. Bảy năm sau đó, cũng là thời gian tôi làm nhiệm vụ “biệt phái”, xét xử phúc thẩm tại Tòa Phúc thẩm, TANDTC tại Hà Nội. Năm 2015, khi tôi có dịp công tác tại Sơn La, nhờ sự chắp nối vô hình của mạng xã hội Facebook, tôi bất ngờ nhận được một cuộc điện thoại từ một nick name lạ. Tiếng đầu dây bên kia rụt dè, nhã nhặn:

- Cô ơi! Con xin giới thiệu, con là Khương, Trần Duy Khương ạ. Con chưa được gặp cô bao giờ. Nhưng từ ngày còn trong trại giam, con đã được đọc bài báo trong Tập san pháp luật cô viết câu chuyện về bố con con, về chuyện vợ chồng con bị kết án về tội phạm ma túy với bút danh Mai Hương. Con biết, Mai Hương chính là cô. Con đã không cầm được nước mắt khi đọc bài báo đó. Và con hiểu, con được ra trại sớm là nhờ tấm lòng nhân hậu và sự cố gắng không mệt mỏi của cô. Giờ đây, vợ chồng con đã được cơ quan bố trí việc làm đúng ngành nghề. Chúng con vô cùng biết ơn cô. Biết cô lên Sơn La công tác, chúng con xin phép được đón cô về nhà, ăn bữa cơm thường trong bản nhỏ với vợ chồng con. Để con được giới thiệu với các con con rằng, bà đây chính là người đã sinh ra bố mẹ nó lần thứ hai!

Do tính chất công việc, dù rất muốn nhưng tôi chưa thể tới thăm gia đình nhỏ của Khương, rằng một dịp nào đó thuận tiện sẽ ghé qua. Câu chuyện này đã xảy ra gần 14 năm trước, nhưng mãi vẫn là một kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời công tác xét xử của tôi. Hành trình giải thoát lời tuyên án thông qua Thông tư số 17 đã cho tôi một bài học vô cùng quý giá. Đó là, với bất kỳ công việc gì, đặc biệt là đối với nghề xét xử, cần lắm một tấm lòng cảm thông với nỗi đau của nhân dân. Từ đó, người cán bộ, Thẩm phán mới đem hết sức mình bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nhân dân cho dù có gặp phải muôn ngàn khó khăn, vất vả.   

Nguyễn Thị Tuyết (nguyên Phó Chánh Tòa phúc thẩm II, TAQS Trung ương, P. Giám đốc Công ty Luật TNHH Trung Cường, Đoàn Luật sư TP Hà Nội)
Bạn đang đọc bài viết Thông tư liên tịch số 17 và kỷ niệm về một vụ án ma túy tại chuyên mục Tòa án của Báo điện tử Công lý. Mọi thông tin chia sẻ, phản hồi xin gửi về hòm thư conglydientu@congly.vn, Hotline 091.2532.315 - 096.1101.678
Cách cài đặt Bluezone giúp cảnh báo người nghi nhiễm Covid-19

Bộ TT&TT và Bộ Y tế vừa thống nhất triển khai trên phạm vi toàn quốc ứng dụng Bluezone để phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Ứng dụng này giúp cảnh báo sớm cho người dùng nếu chẳng may từng tiếp xúc với những người bị nhiễm Covid-19.
Để nhận được các cảnh báo từ Bluezone, việc đầu tiên cần làm là tải về và cài đặt ứng dụng này.

Link tải Bluezone trên Android
Link tải Bluezone trên iOS

Sau khi cài đặt, người dùng cần cấp quyền cho ứng dụng Bluezone truy cập vào bộ nhớ và kết nối Bluetooth để nhận được cảnh báo từ ứng dụng.

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật