Phóng sự - Ghi chép

Giữ lửa nồi đất làng Trù

Gia Ân 07/01/2026 - 07:23

Từ những khối đất bình dị của làng quê, qua bàn tay chai sần của người thợ, những chiếc nồi đất ra đời, âm thầm giữ lửa cho bếp Việt. Sự hồi sinh của nghề nồi đất không chỉ đem lại thu nhập, mà còn níu giữ hồn cốt một làng nghề truyền thống.

Khi đất lên tiếng giữa đời sống hiện đại

Một buổi sáng cuối năm, khi sương còn vương nhẹ trên những mái nhà thấp ở xóm 12, xã Bạch Hà (Nghệ An), những lò nung nồi đất trong làng đã bắt đầu đỏ lửa.

Từ các khoảng sân nhỏ, khói mỏng bay lên, quyện cùng mùi đất mới và tro than, lan chậm trong không gian yên ả của miền quê. Không cần tiếng máy móc ồn ào, làng nghề nồi đất Trù Sơn thức dậy bằng nhịp lao động quen thuộc đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

image.jpg
uploaded-tiendongbna-2024_04_02-_bna-viec-nung-gom-gan-nhu-duoc-thuc-hien-thu-cong-voi-nhung-loai-nguyen-lieu-san-co-nhu-rom-ra-cui-kho-anh-tien-dong-2674.jpg
Làng nghề nồi đất Trù Sơn thức dậy bằng nhịp lao động quen thuộc đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Chưa đến Tết Nguyên đán, nhưng không khí làm ăn trong làng đã sớm rộn ràng. Trước hiên nhà, những dãy nồi đất được xếp ngay ngắn, phơi mình dưới nắng hanh hao cuối năm.

Có chiếc vừa ra lò còn âm ấm, sắc đất còn mới; có chiếc đã nguội, chuyển sang màu nâu sậm, chờ ngày theo những chuyến xe rời làng đi khắp các tỉnh.

Mỗi chiếc nồi là kết tinh của nhiều công đoạn thủ công tỉ mỉ, từ chọn đất, nhào nặn, tạo hình đến phơi, nung, đòi hỏi sự kiên nhẫn và kinh nghiệm của người thợ.

Giữa nhịp sống hiện đại, khi đồ dùng nhôm, inox hay nồi điện ngày càng phổ biến, những chiếc nồi đất mộc mạc từng có lúc bị lãng quên. Thế nhưng, chính sự giản dị, gần gũi và khả năng giữ trọn hương vị món ăn đã giúp nồi đất Trù Sơn tìm lại chỗ đứng trên thị trường.

Không ồn ào, không chạy theo xu hướng, làng nghề nơi đây vẫn âm thầm tồn tại và phát triển, bền bỉ như những con người ngày ngày gắn bó với đất và lửa, giữ lại một phần hồn cốt của bếp quê trong đời sống hôm nay.

Những bàn tay “nắn” sinh kế từ đất

Trong căn nhà nhỏ của chị Nguyễn Thị Thái, công việc bắt đầu từ sáng sớm và kéo dài đến tận chiều muộn. Người nhào đất, người tạo hình, người phơi nồi, người nhóm lửa. Mỗi công đoạn đều cần sự khéo léo và kiên nhẫn, bởi chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến cả mẻ nồi hỏng sau khi nung.

Chị Thái cho biết, dù còn hơn một tháng nữa mới đến Tết cổ truyền, nhưng các mối hàng từ Thái Nguyên, Hà Nội, Ninh Bình đã đặt trước từ sớm. Có khách quen lấy hàng theo tuần, có người đánh xe về tận làng để chọn từng loại nồi phù hợp với nhà hàng, quán ăn của mình.

uploaded-tiendongbna-2024_04_02-_bna-3-8996.jpg
lang-nghe-lam-noi-dat-duy-nhat-o-xu-nghe-ivivu-6.jpg
Mỗi chiếc nồi là kết tinh của nhiều công đoạn thủ công tỉ mỉ đòi hỏi sự kiên nhẫn và kinh nghiệm của người thợ.

Để kịp tiến độ, gia đình chị duy trì thường xuyên khoảng 5 lao động với mức thu nhập ổn định. Ngoài sản xuất tại chỗ, chị còn thu mua thêm nồi đất của nhiều hộ dân trong xóm để gom đủ số lượng lớn. Trung bình mỗi tuần, hàng nghìn sản phẩm được xuất đi các tỉnh.

“Nghề này không làm nhanh được, phải từ từ, cẩn thận. Nhưng bù lại, có việc đều, có thu nhập ổn định, mình yên tâm gắn bó”, chị Thái nói, đôi tay vẫn nắn đất, ánh mắt chăm chú như đã quen với công việc ấy từ lâu.

Từ những khối đất vô tri, qua đôi bàn tay chai sần của người thợ, chiếc nồi dần hiện hình, tròn trịa và mộc mạc. Với người Trù Sơn, mỗi sản phẩm ra lò không chỉ kết tinh công sức lao động, mà còn chứa đựng kinh nghiệm, sự nhẫn nại và niềm tin vào nghề truyền thống đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Đời người gắn với lò nung

Cách nhà chị Thái không xa, trong góc sân rợp bóng tre, bà Nguyễn Thị Chung người đã gần trọn đời gắn bó với nghề nồi đất vẫn lặng lẽ làm việc như một thói quen khó rời.

Gần 60 năm qua, đôi bàn tay chai sạn vì đất, vì lửa đã trở thành “dấu chỉ” của nghề, nhưng mỗi khi chạm vào khối đất thô ráp, các động tác của bà vẫn mềm mại, chính xác đến từng vòng xoay.

Nhắc lại những năm tháng trước đây, bà Chung không giấu được nỗi vất vả. Làm xong mẻ nồi phải canh từng ngày nắng để phơi, chờ đủ độ khô mới dám đưa vào lò nung.

Nồi ra lò lại chất lên xe thồ, rong ruổi từ chợ này sang chợ khác, có hôm đi từ sáng sớm đến chiều muộn chỉ bán được vài chục chiếc. Tiền lời ít ỏi, nhưng bà vẫn bám nghề, bởi đó là sinh kế duy nhất và cũng là nghề cha ông để lại.

Có giai đoạn, khi đồ nhôm, inox, bếp điện dần chiếm lĩnh thị trường, nồi đất rơi vào quên lãng. Lửa lò nguội dần, nhiều gia đình trong làng Trù Sơn buộc phải bỏ nghề để mưu sinh bằng công việc khác. Gia đình bà Chung cũng không ngoại lệ. Mỗi tháng chỉ dám nung một đến hai lò nồi, thu nhập bấp bênh, cuộc sống chật vật qua ngày.

Thế nhưng, khoảng hai năm trở lại đây, nghề nồi đất bắt đầu “ấm” trở lại. Khi những món ăn truyền thống như cá kho niêu, cơm niêu, sắc thuốc Bắc được người tiêu dùng ưa chuộng, chiếc nồi đất mộc mạc bất ngờ tìm lại vị trí của mình. Thương lái từ nhiều tỉnh tìm về tận làng thu mua, người làm nghề không còn cảnh gánh nồi đi bán rong như trước.

Nhờ đó, mỗi tháng gia đình bà Chung có thể nung từ bốn đến năm lò nồi, tạo việc làm thường xuyên cho hai đến ba lao động trong xóm. Thu nhập không lớn, chỉ vài triệu đồng mỗi tháng, nhưng đủ để trang trải cuộc sống và quan trọng hơn là giữ cho lửa nghề không tắt.

“Còn sức thì còn làm, bỏ nghề thì tiếc lắm”, bà Chung nói chậm rãi, giọng trầm xuống, như gửi gắm nỗi lòng của những người thợ đã dành cả đời mình cho đất và lửa.

Giữ nghề để giữ hồn bếp Việt

Nghề làm nồi đất ở Trù Sơn là nghề truyền thống lâu đời, được hun đúc và truyền nối qua nhiều thế hệ. Từ khâu chọn đất, nhào trộn đến tạo hình, nung lò, tất cả đều dựa vào kinh nghiệm dân gian được tích lũy qua năm tháng.

image-1-.jpg
6120240510084731.jpg
Từ những khối đất vô tri, qua đôi bàn tay chai sần của người thợ, chiếc nồi dần hiện hình, tròn trịa và mộc mạc.

Không máy móc hiện đại, không dây chuyền sản xuất hàng loạt, mỗi chiếc nồi ra lò là kết tinh của đôi bàn tay khéo léo, của sự kiên nhẫn và hiểu đất, hiểu lửa của người thợ quê.

Chính quy trình thủ công ấy đã tạo nên nét riêng cho nồi đất Trù Sơn bền chắc, giữ nhiệt tốt, giúp món ăn giữ trọn hương vị truyền thống.

Hiện nay, xã Bạch Hà có khoảng 60 hộ còn gắn bó với nghề, tập trung chủ yếu tại các xóm 10, 11, 12 và 13. Sản phẩm nồi đất ngày càng đa dạng, đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của thị trường, từ nồi kho cá, nồi cơm niêu, cá kho tộ cho đến siêu sắc thuốc.

Không chỉ phục vụ sinh hoạt gia đình, nồi đất Trù Sơn đã có mặt tại nhiều nhà hàng, quán ăn, làng nghề chế biến thực phẩm truyền thống ở các tỉnh, thành trong và ngoài khu vực.

Mỗi tháng, làng nghề cung ứng ra thị trường hàng chục nghìn sản phẩm, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân, bình quân từ 2,5 đến 3 triệu đồng mỗi hộ.

Dù con số chưa lớn, nhưng với một vùng thuần nông, đó là “bệ đỡ” quan trọng giúp nhiều gia đình có thêm sinh kế, bám trụ quê hương, không phải rời làng mưu sinh nơi phố thị.

Điều đáng mừng hơn cả là nghề nồi đất Trù Sơn không chỉ được giữ gìn bởi lớp người cao tuổi mà đang dần được tiếp nối bởi thế hệ trẻ. Nhiều gia đình đã biết kết hợp kinh nghiệm truyền thống với cách làm mới, chủ động tìm thị trường, mở rộng đầu ra, đưa sản phẩm đi xa hơn, bền vững hơn trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn.

Giữa nhịp sống ngày càng hối hả, những chiếc nồi đất mộc mạc của Trù Sơn vẫn âm thầm giữ hơi ấm cho bếp Việt. Trong làn khói lò bảng lảng bay lên mỗi sớm, không chỉ có mùi đất, mùi tro than quen thuộc, mà còn lắng đọng niềm tin bền bỉ của người thợ quê.

Chừng nào bếp lửa gia đình còn đỏ, chừng ấy những món ăn truyền thống vẫn được trân quý, và nghề nồi đất Trù Sơn vẫn còn chỗ đứng, lặng lẽ nhưng bền bỉ đồng hành cùng thời gian.

(0) Bình luận
Nổi bật
Giữ lửa nồi đất làng Trù