Trong nhiều gia đình có nạn nhân chất độc da cam, cuộc chiến dường như chưa bao giờ thực sự kết thúc. Người cha sống cùng di chứng, người con lớn lên trong bệnh tật, rồi đến đời cháu, đời chắt tiếp tục xuất hiện những khiếm khuyết về sức khỏe. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, bóng dáng chiến tranh vẫn phủ xuống những người chưa từng một lần nghe tiếng bom rơi.
.jpg)
Khi nhắc đến hoàn cảnh khốn khó của gia đình nhiễm chất độc da cam qua nhiều thế hệ ở địa bàn tỉnh Nghệ An, không ai không biết đến gia đình anh Đào Văn Hữu ở xóm Vạn Lộc, xã Nghĩa Lộc. Cha anh, ông Đào Văn Tuyến, từng tham gia kháng chiến chống Mỹ. Vợ chồng ông sinh 5 người con thì cả năm đều mang bệnh tật, anh Hữu là một trong số đó. Dị tật ở chân khiến anh đi lại khó khăn, không có cơ hội đến trường. Sau khi kết hôn với chị Lê Thị Mai, 3 người con của anh lần lượt chào đời vào các năm 2006, 2011 và 2015, nhưng đều lớn lên cùng bệnh tật.
Gánh nặng mưu sinh và chăm sóc chồng con gần như dồn cả lên vai chị Mai. Trong căn nhà ấy, dấu vết chiến tranh không chỉ nằm ở những kỷ vật của người lính năm xưa, mà hiện hữu trong bước chân khó nhọc của anh Hữu, những lần đưa con đi khám và nỗi lo thường trực về cuộc sống ngày mai của người vợ.
Tại thôn Hoàng Phúc, xã Đồng Việt, tỉnh Bắc Ninh, thương binh Hà Ngọc Xoan có 2 người con trai thiểu năng trí tuệ, đến đời cháu, gia đình tiếp tục ghi nhận những khiếm khuyết về thị lực. Cũng tại Bắc Giang, vợ chồng ông Vũ Văn Cần từng thở phào khi cả năm người con đều khỏe mạnh. Nhưng đến đời cháu, em Nguyễn Thị Yến Nh chào đời với cơ thể không phát triển bình thường. Hơn 20 tuổi, em vẫn mang hình hài của một đứa trẻ chưa đầy mười tuổi, cuộc sống gần như gắn với chiếc giường nhỏ và sự chăm sóc của ông bà.
Những đứa trẻ ấy chưa từng nghe tiếng máy bay gầm rú trên bầu trời, chưa từng đi qua những cánh rừng bị hóa chất tàn phá. Các em sinh ra khi chiến tranh đã lùi xa, nhưng cuộc đời lại phải mang những thiệt thòi bắt nguồn từ một quá khứ thuộc về thế hệ ông, cha. Chất độc được phun rải trong một thời gian hữu hạn, nhưng hậu quả lại kéo dài qua nhiều thế hệ, mà ngay chính những người trong cuộc cũng không hình dung hậu quả đó khi nào thì kết thúc.
Theo thống kê của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin, khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm chất độc hóa học, trong đó khoảng 3 triệu người là nạn nhân chất độc da cam. Hết năm 2024, cả nước ghi nhận hơn 35.000 trường hợp thuộc thế hệ thứ ba và hơn 6.000 trường hợp thuộc thế hệ thứ tư trong các gia đình nạn nhân. Riêng tại Bắc Giang (cũ), Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh ghi nhận gần 800 trường hợp thuộc thế hệ thứ ba chịu ảnh hưởng. Tại Nghệ An có 600 nạn nhân là thế hệ thứ 3 và có 4 nạn nhân là thế hệ thứ 4…
Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin
Đằng sau những con số tưởng như khô khan là hàng chục nghìn người cần được chăm sóc lâu dài, cùng hàng chục nghìn gia đình phải dành phần lớn sức lực, thời gian và thu nhập để chống chọi với bệnh tật. Thiếu tướng, PGS.TS, Thầy thuốc nhân dân Nguyễn Hồng Sơn - Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam TP.HCM nhấn mạnh: "65 năm "Thảm họa da cam", 50 năm chiến tranh đã qua đi, nhưng những bệnh lý quái ác, những nỗi đớn đau về thể xác và tinh thần vẫn dai dẳng, hành hạ hàng triệu người Việt Nam qua 3-4 thế hệ, gây khó khăn vô cùng cho mỗi gia đình và xã hội”.
.jpg)
Nỗi đau kéo qua nhiều thế hệ
Nhắc lại những năm tháng từng tham gia Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 và Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, cựu chiến binh Nguyễn Mạnh Hùng, ở phường Vũng Tàu, TP.HCM, vẫn giữ được giọng nói rắn rỏi, nhưng khi câu chuyện chuyển sang gia đình, ông bỗng nghẹn lại. Chất độc da cam/dioxin không chỉ để lại bệnh tật trên cơ thể người lính năm xưa, mà còn phủ bóng lên cuộc đời 2 người con và 2 người cháu, kéo dài nỗi đau qua 3 thế hệ.
Ông chia sẻ, không chỉ ông bị nhiễm chất độc da cam và mắc nhiều bệnh nặng, 2 người con cũng bị nhiễm, rồi đến 2 người cháu 11 và 13 tuổi cũng không thoát khỏi bị ảnh hưởng.
"Con trai tôi lơ ngơ không biết gì. Con gái lấy chồng, sinh con thì cả hai đứa đều mắc bệnh máu trắng, phải thay máu liên tục. Sức khỏe tôi yếu quá rồi, lại vừa mổ tim. Không biết tôi mất rồi thì con cháu sống làm sao", ông Hùng vừa nói vừa khóc.
Pháp luật về ưu đãi người có công hiện đã quy định chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ đáp ứng các điều kiện nhất định. Tuy nhiên, thế hệ thứ ba và thứ tư chưa thuộc nhóm đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi theo cơ chế này. Nếu được xác định là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng, họ chủ yếu được xem xét theo chính sách bảo trợ xã hội.
Điểm nhức nhối lớn nhất được đại diện Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam và nhiều đại biểu nêu rõ là “khoảng trống” chính sách đối với thế hệ thứ 3 và thứ 4 - những cháu, chắt của người hoạt động kháng chiến hoặc nạn nhân bị phơi nhiễm, đang sinh ra với các di chứng về sức khỏe, dị tật bẩm sinh hoặc các rối nhiễu khác. Hiện, pháp luật về ưu đãi người có công chưa có quy định rõ ràng cho nhóm đối tượng này, do vậy, họ dễ rơi vào tình trạng không được hưởng chế độ, thiếu hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng và sinh kế bền vững.
Lấp khoảng trống ấy không chỉ là mở rộng thêm một nhóm hưởng trợ cấp mà điều cần thiết hơn là tiếp tục điều tra, xây dựng cơ sở dữ liệu, hoàn thiện tiêu chí chuyên môn và đánh giá nhu cầu của từng thế hệ trên nền tảng khoa học. Chính sách cũng cần nhìn trọn vòng đời của nạn nhân, từ khám chữa bệnh, phục hồi chức năng đến hỗ trợ người chăm sóc và nơi nương tựa khi người thân không còn đủ sức ở bên.
Điều khiến chất độc da cam trở thành một trong những vết thương dai dẳng nhất của chiến tranh không chỉ nằm ở những gì nó đã hủy hoại trong quá khứ, mà còn ở sự tiếp diễn âm thầm trong hiện tại. Dưới nhiều mái nhà, người ông đã gần cuối đời, người con cũng bắt đầu bạc tóc, còn đứa cháu trưởng thành vẫn chờ một bàn tay đưa bát cơm, sửa lại tấm áo.
Xoa dịu nỗi đau da cam vì thế không chỉ là sự tri ân đối với người đã hy sinh, cống hiến, mà còn là trách nhiệm với những người con, người cháu vô tội đang gánh chịu hệ lụy của cuộc chiến mình chưa từng biết đến. Họ cần sự thật được làm rõ bằng khoa học, số phận được ghi nhận bằng dữ liệu và chính sách đủ nhân văn. Chừng nào trẻ em sinh ra trong hòa bình vẫn phải sống dưới cái bóng chiến tranh, hành trình sẻ chia và chữa lành vẫn chưa thể dừng lại.