Trọng dụng nhân tài gắn với nhiệm vụ chiến lược và giá trị cống hiến
Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu thu hút, trọng dụng khoảng 1.000 nhân tài quốc gia ở cả khu vực công và khu vực tư. Kết luận số 105-KL/TW yêu cầu đổi mới căn bản tư duy quản trị nhân tài, lấy sản phẩm, kết quả và giá trị cống hiến làm thước đo.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV sáng 16/10, đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, trình bày những nội dung cốt lõi của Kết luận số 105-KL/TW về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Phấn đấu thu hút, trọng dụng khoảng 1.000 nhân tài quốc gia đến năm 2030
Chuyên đề chỉ rõ những điểm nghẽn trong công tác nhân tài: nhận thức chưa đầy đủ, thống nhất; quản lý còn nặng thủ tục; chính sách phân tán, thiếu đồng bộ; thiếu liên thông giữa khu vực công và tư, trong nước và ngoài nước. Việc phát hiện, bồi dưỡng chưa được quan tâm đúng mức, trong khi bố trí, sử dụng và trọng dụng nhân tài chưa tương xứng.
Kết luận xác định nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia. Thu hút, trọng dụng phải gắn với chiến lược phát triển đất nước, ưu tiên các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia. Công tác nhân tài đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện của Đảng; Nhà nước kiến tạo thể chế, huy động sự tham gia của cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và toàn xã hội, hình thành hệ sinh thái mở, liên thông, hội nhập quốc tế.

Cùng với mục tiêu thu hút, trọng dụng khoảng 1.000 nhân tài quốc gia gắn với nhiệm vụ, sản phẩm và đóng góp cụ thể, đến năm 2030, Kết luận yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế, chính sách; vận hành đồng bộ hạ tầng số quốc gia về nhân tài; hình thành hệ sinh thái nhân tài mở, liên thông, hội nhập; thuộc nhóm 3 nước đứng đầu ASEAN về Chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu. Đến năm 2045, Việt Nam chủ động bảo đảm nguồn lực nhân tài, phấn đấu thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu về chỉ số này.
Về nhận diện, nhân tài phải có phẩm chất, tố chất, năng lực nổi trội, tư duy sáng tạo; có sản phẩm, thành tích hoặc đóng góp đặc biệt, mang tính đột phá và khả năng giải quyết hiệu quả nhiệm vụ quan trọng, mới, khó, phức tạp. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về phát hiện, tiến cử, lựa chọn, trọng dụng và kết quả công tác nhân tài. Doanh nghiệp được xác định là một chủ thể quan trọng trong quá trình này.
Một nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng Khung tiêu chí quốc gia về nhân tài, cập nhật danh mục ngành, lĩnh vực mũi nhọn; tháo gỡ rào cản về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình. Các chính sách tiền lương, thuế, nhà ở, xuất nhập cảnh, an sinh xã hội đối với nhân tài và thân nhân phải đủ mạnh để người tài yên tâm cống hiến.
Về nguồn lực, Kết luận yêu cầu bố trí ngân sách nhà nước cho công tác nhân tài khoảng 0,1% GDP hằng năm trong tổng nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Phương thức tài chính chuyển sang đặt hàng, khoán chi, tài trợ theo sản phẩm, kết quả; đẩy mạnh xã hội hóa, ưu đãi thuế, tín dụng để huy động nguồn lực doanh nghiệp và xã hội. Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống chỉ số quốc gia, Cổng thông tin quốc gia về nhân tài và các nền tảng số phục vụ quản trị.
Lấy sản phẩm, kết quả và giá trị cống hiến làm thước đo
Việc phát hiện, tiến cử nhân tài được thực hiện từ nhiều nguồn, trong và ngoài nước, không phân biệt công và tư; không tính vào chỉ tiêu biên chế đối với khu vực công. Trọng dụng phải đúng người, đúng sở trường, giao việc xứng tầm, trao thẩm quyền thực chất và nguồn lực tương xứng, gắn với liêm chính, trách nhiệm giải trình. Việc đánh giá căn cứ kết quả, chất lượng sản phẩm, giá trị tạo ra và hiệu quả cống hiến; kịp thời chấm dứt giao nhiệm vụ khi không đáp ứng yêu cầu.
Để tạo nguồn lâu dài, Kết luận yêu cầu phát hiện sớm, tuyển chọn, đào tạo tài năng trẻ, theo dõi và hỗ trợ phát triển liên tục; thiết lập cơ chế “Nhân tài dẫn dắt nhân tài”. Kết luận cũng yêu cầu trao quyền tự chủ cao hơn cho đại học, viện nghiên cứu, gắn với trách nhiệm giải trình, chất lượng sản phẩm và liêm chính học thuật. Cùng với đó là xây dựng văn hóa trọng người thực tài, khắc phục đố kỵ, cô lập, sợ người giỏi; mở rộng tự chủ chuyên môn, tạo điều kiện khởi nghiệp, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Hợp tác quốc tế tập trung thu hút người Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế tham gia đào tạo, cố vấn, chủ trì hoặc đồng chủ trì nhiệm vụ chiến lược tại Việt Nam; phát triển Mạng lưới nhân tài Việt Nam theo ngành, lĩnh vực trong nước và xuyên quốc gia. Hiệu quả hợp tác phải thể hiện qua chuyển giao tri thức, làm chủ công nghệ và nâng cao năng lực đội ngũ trong nước.
Về triển khai, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà cho biết, Chương trình hành động của Bộ Chính trị xác định 30 nhiệm vụ, chương trình, đề án quan trọng, giao 14 cơ quan chủ trì, có thời hạn, sản phẩm và nguồn lực cụ thể; phần lớn phải hoàn thành trong quý II và quý III/2027. Chính phủ đang hoàn thiện chương trình hành động triển khai Kết luận. Các cấp ủy, tổ chức đảng được đề nghị khẩn trương xây dựng chương trình, kế hoạch phù hợp với từng ngành, lĩnh vực, địa phương và thực hiện đúng tiến độ.
