TAND hai cấp thành phố Quảng Ninh: Giải quyết 97,5% vụ, việc thụ lý
Khối lượng công việc tăng trong năm đầu vận hành trọn vẹn mô hình tổ chức mới, TAND hai cấp thành phố Quảng Ninh vẫn giải quyết 97,5% số vụ, việc thụ lý. Tỷ lệ án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan giảm, công tác hòa giải và ứng dụng công nghệ có nhiều chuyển biến.

Khối lượng công việc tăng trong năm đầu vận hành trọn vẹn mô hình tổ chức mới, TAND hai cấp thành phố Quảng Ninh vẫn giải quyết 97,5% số vụ, việc thụ lý. Tỷ lệ án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan giảm, công tác hòa giải và ứng dụng công nghệ có nhiều chuyển biến.

Năm công tác 2026, TAND thành phố Quảng Ninh và 6 TAND khu vực vừa tiếp tục kiện toàn tổ chức sau sắp xếp, vừa thực hiện thẩm quyền được mở rộng. Số lượng vụ, việc tăng, tính chất tranh chấp phức tạp hơn, trong khi đội ngũ Thẩm phán, Thư ký chưa được bổ sung tương ứng.
Từ ngày 01/10/2025 đến 30/9/2026, TAND hai cấp thụ lý 8.565 vụ, việc, tăng 695 vụ, việc so với năm trước. Riêng án dân sự tăng 659 vụ, việc; án hôn nhân và gia đình tăng 704 vụ, việc. Nhiều tranh chấp đất đai, thừa kế, hợp đồng tín dụng có đông đương sự, tài sản giá trị lớn, phải xác minh, thu thập chứng cứ tại nhiều cơ quan.
Để đáp ứng nhiệm vụ, TAND thành phố đã điều động 20 Thẩm phán, Thư ký, gia hạn biệt phái đối với một Thẩm phán. Việc bố trí nhân lực được chú trọng tại những đơn vị có lượng án lớn, đồng thời tăng cường kiểm tra nghiệp vụ, theo dõi tiến độ giải quyết và phối hợp thu thập tài liệu, chứng cứ.

Kết thúc năm công tác, TAND hai cấp giải quyết 8.347 vụ, việc, tăng 783 vụ, việc so với năm 2025, đạt tỷ lệ 97,5%. Trong đó, TAND thành phố giải quyết 508/554 vụ, việc, đạt 91,7%; các TAND khu vực giải quyết 7.839/8.011 vụ, việc, đạt 97,9%.
Chuyển biến rõ ở những loại án thường gặp khó khăn về chứng cứ và thủ tục. Tỷ lệ giải quyết án hành chính đạt 91,5%, tăng 14,6 điểm phần trăm; án kinh doanh thương mại, phá sản đạt 93,2%, tăng 6,9 điểm phần trăm; án dân sự đạt 94,4%, tăng 5,4 điểm phần trăm so với năm trước.
Cùng với tiến độ, chất lượng giải quyết án được cải thiện. Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan giảm từ 1,01% xuống 0,79%. Kết quả này có ý nghĩa trong điều kiện các đơn vị phải xử lý khối lượng công việc lớn hơn sau sắp xếp.

Việc kiểm tra, rút kinh nghiệm được duy trì thường xuyên. Bộ phận chuyên môn đã kiểm tra 4.686 bản án, quyết định và 789 quyết định công nhận, không công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án. Các đơn vị tổ chức 204 phiên tòa rút kinh nghiệm, tăng 20 phiên so với năm trước. Qua từng phiên tòa, những thiếu sót trong đánh giá chứng cứ, thực hiện thủ tục tố tụng và điều hành xét xử được trao đổi, rút kinh nghiệm để khắc phục.
Đối với án hình sự, TAND hai cấp giải quyết, xét xử 1.527 vụ với 3.531 bị cáo, đạt tỷ lệ 98,5%. Theo báo cáo tổng kết, công tác xét xử không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm; những vụ án nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận quan tâm được đưa ra xét xử kịp thời. Quyền bào chữa và việc tranh tụng tại phiên tòa được chú trọng bảo đảm.

Ở lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, hành chính, hòa giải và đối thoại tiếp tục mang lại kết quả tích cực. Tỷ lệ hòa giải thành, đối thoại thành chung đạt 72,5%, tăng 7,9 điểm phần trăm so với năm 2025. Riêng theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có 1.068 vụ, việc hòa giải thành, đối thoại thành.
Thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện giúp các bên giảm thời gian, chi phí theo đuổi vụ kiện, tạo thuận lợi cho việc thực hiện nghĩa vụ sau khi vụ việc kết thúc. Với những tranh chấp trong gia đình, giữa người thân, hòa giải còn góp phần hạn chế mâu thuẫn kéo dài. Đây cũng là công việc được các đơn vị chú trọng khi số vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình tăng mạnh.

Những thay đổi trong năm công tác còn thể hiện ở cách tiếp nhận, xử lý yêu cầu của công dân và quản lý hồ sơ tại từng đơn vị.
TAND khu vực 1 sử dụng hệ thống quản lý đơn điện tử kết hợp mã QR, hỗ trợ tra cứu tiến độ giải quyết đơn trực tuyến. TAND khu vực 3 xây dựng công cụ hướng dẫn công dân tự soạn đơn. Những ứng dụng này hỗ trợ người dân từ khâu chuẩn bị hồ sơ đến theo dõi việc giải quyết yêu cầu tại Tòa án.

Trong quản lý nghiệp vụ, TAND khu vực 4 sử dụng sổ theo dõi điện tử tiến độ giải quyết án của Thẩm phán; TAND khu vực 6 xây dựng bảng quản trị số liệu phục vụ điều hành. TAND khu vực 1 áp dụng phần mềm phân công Hội thẩm nhân dân, đồng thời tổ chức phiên tòa mẫu để bồi dưỡng kỹ năng cho Hội thẩm nhiệm kỳ mới.
TAND hai cấp đã tổ chức 68 phiên tòa xét xử trực tuyến; công bố đầy đủ 4.412 bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thuộc diện phải công bố. Việc số hóa hồ sơ, triển khai nền tảng giải quyết án toàn trình và tống đạt văn bản tố tụng qua ứng dụng VNeID tiếp tục được thực hiện.

Dù có nhiều chuyển biến, hoạt động của các đơn vị vẫn còn khó khăn. Một số vụ án kéo dài do phải ủy thác tư pháp, xác minh thêm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc chờ cung cấp chứng cứ. Việc bàn giao chưa đầy đủ hồ sơ đất đai sau sắp xếp đơn vị hành chính ảnh hưởng đến quá trình thu thập tài liệu, định giá tài sản. Hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ, thiếu cán bộ chuyên trách cũng gây trở ngại cho việc sử dụng các phần mềm.

Về nhiệm vụ năm tới, Chánh án TAND thành phố Quảng Ninh Nguyễn Xuân Thiện cho biết: “Chúng tôi tập trung nâng cao chất lượng xét xử, tiếp tục giảm án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan; bố trí cán bộ phù hợp với khối lượng công việc của từng đơn vị. Cùng với duy trì hiệu quả hòa giải, đối thoại, TAND hai cấp sẽ đẩy mạnh số hóa hồ sơ, xét xử trực tuyến và nhân rộng những ứng dụng công nghệ thiết thực, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi làm việc với Tòa án”.

Từ kết quả năm công tác đầu tiên vận hành đầy đủ mô hình mới, TAND hai cấp thành phố Quảng Ninh tiếp tục đặt yêu cầu chất lượng trong từng hồ sơ, từng phán quyết. Giải quyết kịp thời các vụ việc, khắc phục sai sót nghiệp vụ và hạn chế án kéo dài vẫn là những nhiệm vụ trực tiếp quyết định hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.
