Quy định mới về nâng ngạch Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án
Từ ngày 1/10/2026, việc xét nâng ngạch Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án được thực hiện theo các tiêu chuẩn, điều kiện và cơ cấu ngạch mới.
Ba cấp ngạch Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án
Tòa án nhân dân tối cao vừa ban hành Thông tư số 17/2026/TT-TANDTC quy định điều kiện của các ngạch, việc nâng ngạch và cơ cấu tỷ lệ các ngạch Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án.
Theo đó, hệ thống ngạch Thư ký Tòa án gồm Thư ký viên, Thư ký viên chính và Thư ký viên cao cấp; ngạch Thẩm tra viên Tòa án gồm Thẩm tra viên, Thẩm tra viên chính và Thẩm tra viên cao cấp.
Đối với Thư ký viên, ngoài việc đáp ứng quy định tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, công chức phải có kiến thức cơ bản về nghiệp vụ Thư ký Tòa án, quy trình tố tụng và nhiệm vụ hành chính, tư pháp. Đồng thời, phải có kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ, việc; tham mưu, soạn thảo văn bản tố tụng, văn bản hành chính, tư pháp; quản lý hồ sơ, tài liệu, báo cáo, thống kê và ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong thực hiện nhiệm vụ.

Yêu cầu đối với Thư ký viên chính được nâng cao hơn. Người giữ ngạch này phải nắm vững, am hiểu chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hệ thống chính trị, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân; đồng thời có năng lực tham gia xây dựng, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định, quy trình nghiệp vụ Thư ký Tòa án.
Thư ký viên chính phải có một trong hai chứng chỉ: chứng chỉ nghiệp vụ Thư ký viên chính hoặc chứng chỉ nghiệp vụ xét xử.
Ở ngạch Thư ký viên cao cấp, công chức phải có năng lực đề xuất, tham mưu, chủ trì xây dựng quy trình nghiệp vụ gắn với yêu cầu nhiệm vụ của Tòa án nhân dân; có khả năng phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và đề xuất phương pháp hoàn thiện hoặc giải quyết các vấn đề thực tiễn thuộc phạm vi chuyên môn được giao.
Thư ký viên cao cấp phải có chứng chỉ nghiệp vụ Thư ký viên cao cấp hoặc chứng chỉ nghiệp vụ xét xử và có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên.
Đối với Thẩm tra viên Tòa án, yêu cầu cũng được phân thành ba cấp. Thẩm tra viên phải nắm vững pháp luật, nghiệp vụ Thẩm tra viên và quy trình tố tụng; có kỹ năng soạn thảo văn bản, làm việc độc lập hoặc phối hợp nhóm và ứng dụng công nghệ, cơ sở dữ liệu, phần mềm nghiệp vụ phục vụ công tác thẩm tra.
Thẩm tra viên chính phải có năng lực tham gia xây dựng, hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy trình nghiệp vụ; phân tích, tổng hợp, đề xuất giải pháp đối với những vấn đề thực tiễn phát sinh; tham gia nghiên cứu, góp ý xây dựng đề án, đề tài và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Người giữ ngạch Thẩm tra viên chính phải có chứng chỉ nghiệp vụ Thẩm tra viên chính hoặc chứng chỉ nghiệp vụ xét xử.
Đối với Thẩm tra viên cao cấp, Thông tư đặt ra yêu cầu về khả năng chủ trì xây dựng, hoàn thiện quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ; chủ trì nghiên cứu, xây dựng đề án, đề tài, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản quản lý về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân.
Thẩm tra viên cao cấp phải có chứng chỉ nghiệp vụ Thẩm tra viên cao cấp hoặc chứng chỉ nghiệp vụ xét xử và có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên.
Xét nâng ngạch hằng năm, quy định rõ thời gian giữ ngạch
Theo Thông tư, việc xét nâng ngạch được thực hiện căn cứ vào vị trí việc làm, yêu cầu của vị trí việc làm gắn với tiêu chuẩn ngạch tương ứng, kết quả thực hiện nhiệm vụ và cơ cấu ngạch công chức của Tòa án nhân dân các cấp.
Việc xét nâng ngạch được thực hiện theo thứ tự từ ngạch thấp lên ngạch cao hơn liền kề. Đối với Thư ký Tòa án, trình tự là từ Thư ký viên lên Thư ký viên chính, sau đó từ Thư ký viên chính lên Thư ký viên cao cấp. Đối với Thẩm tra viên, trình tự là từ Thẩm tra viên lên Thẩm tra viên chính và từ Thẩm tra viên chính lên Thẩm tra viên cao cấp. Kỳ xét nâng ngạch được tổ chức hằng năm.
Để được đăng ký dự xét, công chức phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của ngạch đăng ký; được xếp loại chất lượng từ mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong năm công tác liền kề trước năm dự xét; có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; không đang trong thời hạn xử lý kỷ luật hoặc chấp hành quyết định kỷ luật, cũng như không thuộc trường hợp đang thực hiện các quy định liên quan đến kỷ luật theo quy định của Đảng và pháp luật.
Người dự xét cũng phải có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí việc làm dự kiến bố trí sau khi nâng ngạch.
Về thời gian giữ ngạch, Thư ký viên được xét nâng lên Thư ký viên chính khi đã giữ ngạch 8 năm hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ đủ 8 năm trở lên, trong đó có ít nhất 1 năm giữ ngạch Thư ký viên tính đến hết thời hạn nộp hồ sơ đăng ký dự xét.
Trường hợp người đang giữ ngạch Thư ký viên hoặc tương đương được bổ nhiệm vào chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác Đảng tương đương Trưởng phòng trở lên cũng thuộc trường hợp được xét nâng ngạch.
Đối với Thư ký viên chính, thời gian giữ ngạch để được xét nâng lên Thư ký viên cao cấp là 5 năm; hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ đủ 13 năm trở lên, trong đó có ít nhất 1 năm giữ ngạch Thư ký viên chính.
Trường hợp được bổ nhiệm vào chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác Đảng tương đương Vụ trưởng trở lên cũng thuộc diện được xét.
Các quy định tương ứng được áp dụng đối với Thẩm tra viên. Thẩm tra viên được xét nâng lên Thẩm tra viên chính khi đã giữ ngạch 8 năm hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ đủ 8 năm trở lên, trong đó có ít nhất 1 năm giữ ngạch Thẩm tra viên.
Thẩm tra viên chính được xét nâng lên Thẩm tra viên cao cấp khi đã giữ ngạch 5 năm hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ đủ 13 năm trở lên, trong đó có ít nhất 1 năm giữ ngạch Thẩm tra viên chính.
Trường hợp số người đủ điều kiện xét nâng ngạch nhiều hơn chỉ tiêu được giao, Thông tư quy định thứ tự ưu tiên, trước hết là người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cao hơn; người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; tiếp đến là người có thành tích khen thưởng, thành tích thi đua cao hơn. Các tiêu chí tiếp theo gồm người đáp ứng điều kiện là nữ, người dân tộc thiểu số, người nhiều tuổi hơn và người có thời gian công tác nhiều hơn.
Tỷ lệ từng ngạch và quy trình xét nâng ngạch
Thông tư quy định cơ cấu ngạch dựa trên danh mục vị trí việc làm, mức độ phức tạp của công việc, yêu cầu về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và số lượng biên chế công chức cần bố trí theo từng vị trí việc làm.
Tại Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm tra viên cao cấp không quá 40% tổng số Thẩm tra viên được giao; Thẩm tra viên chính không quá 40%, số còn lại là Thẩm tra viên. Đối với Thư ký Tòa án, Thư ký viên cao cấp không quá 40%, Thư ký viên chính không quá 40%, số còn lại là Thư ký viên.
Tại Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố, tỷ lệ Thẩm tra viên cao cấp không quá 30%, Thẩm tra viên chính không quá 30%, số còn lại là Thẩm tra viên. Tỷ lệ Thư ký viên cao cấp và Thư ký viên chính cũng không quá 30% đối với mỗi ngạch.
Tại Tòa án nhân dân khu vực, tỷ lệ Thẩm tra viên cao cấp không quá 20%, Thẩm tra viên chính không quá 30%, số còn lại là Thẩm tra viên. Đối với Thư ký Tòa án, Thư ký viên cao cấp không quá 30%, Thư ký viên chính không quá 30%, số còn lại là Thư ký viên.
Nếu kết quả xác định số lượng tối đa theo tỷ lệ có số dư thì được tính tăng thêm một người.
Về tổ chức xét nâng ngạch, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập Hội đồng xét nâng ngạch gồm 9 thành viên. Hội đồng làm việc theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số.
Phiên họp của Hội đồng phải có ít nhất hai phần ba số thành viên có mặt. Nghị quyết được thông qua khi có hai phần ba số thành viên có mặt biểu quyết tán thành. Trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo ý kiến mà Chủ tịch Hội đồng đã biểu quyết.
Quá trình xét nâng ngạch được thực hiện trên cơ sở hồ sơ của từng nhân sự. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, chưa rõ ràng hoặc cần xác minh thì Hội đồng có thể tạm dừng việc xét đối với nhân sự đó để làm rõ.
Hồ sơ đề nghị xét nâng ngạch gồm tờ trình, danh sách đề nghị và hồ sơ cá nhân, trong đó có sơ yếu lý lịch, bản nhận xét, đánh giá của người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức, văn bằng, chứng chỉ theo yêu cầu và tài liệu chứng minh thành tích, kết quả công tác.
Đáng chú ý, trường hợp các thành phần hồ sơ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và tồn tại trong cơ sở dữ liệu quốc gia thì được sử dụng để thay thế bản giấy tương ứng.
Thông tư cũng quy định Vụ Tổ chức - Cán bộ Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm trình Chánh án quyết định kế hoạch tổ chức xét nâng ngạch, chỉ tiêu xét nâng ngạch và thành lập Hội đồng. Kết quả xét nâng ngạch được phê duyệt trên cơ sở nghị quyết của Hội đồng.
Căn cứ danh sách đủ điều kiện nâng ngạch đã được phê duyệt, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự Trung ương và Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp ngạch đối với các trường hợp được xét nâng ngạch theo thẩm quyền được phân cấp quản lý cán bộ.
Thông tư số 17/2026/TT-TANDTC có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2026.
