Quy định 225-QĐ/TW: Những điểm mới về kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
Quy định số 225-QĐ/TW ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung đáng chú ý về thẩm quyền kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng, đình chỉ sinh hoạt đảng và thời hạn thực hiện các thủ tục liên quan.

Mở rộng, cập nhật phạm vi áp dụng và nguyên tắc thực hiện
Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, Quy định 225-QĐ/TW bổ sung rõ trường hợp tổ chức đảng thay đổi do chuyển giao, chia tách, hợp nhất, sáp nhập; Quy định 21-QĐ/TW trước đó chỉ nêu trường hợp chia tách, sáp nhập. Nội dung này làm rõ phạm vi áp dụng khi tổ chức đảng có sự thay đổi về tổ chức.
Về nguyên tắc kiểm tra, giám sát và kỷ luật, Quy định 225-QĐ/TW bổ sung cụm từ bảo vệ cán bộ “dám đổi mới”, bên cạnh các yêu cầu bảo vệ cái đúng, người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung.
Điều chỉnh quy định về tổ chức, hoạt động và thẩm quyền của ủy ban kiểm tra
Quy định 225-QĐ/TW điều chỉnh một số nội dung liên quan đến cấp tổ chức đảng được thành lập ủy ban kiểm tra và cơ chế tổ chức hoạt động. Trong đó, tại Điều 3, khái niệm ủy ban kiểm tra được diễn đạt theo hướng được lập từ đảng ủy trực thuộc cơ sở trở lên, thay vì đảng ủy cơ sở trở lên như Quy định 21-QĐ/TW.
Đây là thay đổi cần lưu ý khi xác định cấp tổ chức đảng có ủy ban kiểm tra và thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.
Bổ sung nội dung kiểm tra đối với tổ chức đảng
Quy định 225-QĐ/TW bổ sung vào nội dung kiểm tra đối với tổ chức đảng việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các quy định về phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Đây là nội dung được bổ sung tại điểm i khoản 2.3.1 Điều 4 của Quy định 225-QĐ/TW, trong khi danh mục nội dung kiểm tra tại Quy định 21-QĐ/TW chưa có điểm này.
Điều chỉnh một số quy định về kỷ luật, hiệu lực quyết định kỷ luật
Quy định 225-QĐ/TW tiếp tục quy định quyết định kỷ luật có hiệu lực từ ngày ký, trừ quyết định thuộc thẩm quyền của chi bộ. Văn bản mới làm rõ thêm các trường hợp thay đổi hình thức kỷ luật và cách tính thời hạn chấp hành kỷ luật.
Cụ thể, nếu thay đổi hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức đảng hoặc đảng viên, thời hạn chấp hành kỷ luật được tính từ ngày quyết định kỷ luật đầu tiên có hiệu lực. Nếu thay đổi hình thức kỷ luật giải tán tổ chức đảng hoặc khai trừ đảng viên, thời hạn chấp hành được tính từ ngày quyết định kỷ luật thay thế có hiệu lực.
Điểm cần chú ý là phải phân biệt hai trường hợp trên khi xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn chấp hành kỷ luật.
Bổ sung trường hợp xem xét lại kỷ luật khi đảng viên bị kết án oan, sai
Quy định 225-QĐ/TW bổ sung cụm từ “đình chỉ bị can” vào trường hợp cơ quan có thẩm quyền đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can để tổ chức đảng xem xét lại quyết định kỷ luật đối với đảng viên bị kết án oan, sai.
Nội dung này mở rộng trường hợp cần xem xét lại quyết định kỷ luật, kể cả khi đảng viên đã chết, nếu có căn cứ pháp lý mới liên quan đến vụ án.
Các nội dung khác như trách nhiệm thông báo trong thời hạn 3 ngày khi có quyết định tố tụng và việc xem xét kỷ luật không nhất thiết phải chờ kết luận hoặc tuyên án của tòa án, về cơ bản tiếp tục được duy trì.
Điều chỉnh thẩm quyền giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng
Đây là một trong những nội dung cần chú ý nhất khi áp dụng Quy định 225-QĐ/TW . Quy định mới điều chỉnh cách phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cấp, đặc biệt là đối với quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo và thẩm quyền giải quyết cuối cùng.
Một số điểm cụ thể: Làm rõ ban thường vụ cấp ủy là cấp giải quyết khiếu nại kỷ luật lần đầu của tổ chức đảng, đảng viên đối với quyết định kỷ luật của ủy ban kiểm tra cùng cấp; Quy định rõ thẩm quyền của ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương trong giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với một số hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đảng viên; Phân định lại các trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết cuối cùng của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Bí thư và Bộ Chính trị.
So với Quy định 21-QĐ/TW, Quy định 225-QĐ/TW phân định cụ thể hơn theo chủ thể ra quyết định kỷ luật, cấp tổ chức đảng và hình thức kỷ luật. Vì vậy, khi tiếp nhận đơn khiếu nại, cần xác định chính xác cơ quan ban hành quyết định kỷ luật ban đầu và hình thức kỷ luật để xác định đúng cấp giải quyết.
Bổ sung, làm rõ quy định về thời hạn khiếu nại và giải quyết khiếu nại
Về thời hạn khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại và thời hạn chuyển đơn, Quy định 225-QĐ/TW giữ các mốc thời gian chính. Điểm cần lưu ý là Quy định 225-QĐ/TW diễn đạt rõ hơn việc xác định thời hạn khiếu nại từ ngày nhận quyết định đến ngày gửi đơn trực tiếp hoặc theo dấu bưu điện, đồng thời xác định rõ hơn phạm vi áp dụng đối với tổ chức đảng và đảng viên. Nội dung về trách nhiệm xác minh, thông báo và hướng dẫn người khiếu nại cũng được giữ lại.
Bổ sung trường hợp không xem xét, giải quyết khiếu nại khi người khiếu nại không đến làm việc
Quy định 225-QĐ/TW bổ sung quy định: nếu tổ chức đảng hoặc đảng viên khiếu nại được mời làm việc hai lần nhưng không đến mà không có lý do chính đáng thì tổ chức đảng có thẩm quyền lập biên bản, không xem xét, giải quyết khiếu nại và lưu hồ sơ kết thúc. Đây là điểm cần lưu ý trong quá trình xử lý hồ sơ khiếu nại, bởi việc mời làm việc, ghi nhận việc không đến và lập biên bản phải có hồ sơ, căn cứ rõ ràng.
Điều chỉnh thẩm quyền đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp ủy
Quy định 225-QĐ/TW có điều chỉnh về cấp ủy, ủy ban kiểm tra có thẩm quyền quyết định đình chỉ trong một số trường hợp. Chẳng hạn, quy định về thẩm quyền của ủy ban kiểm tra được diễn đạt từ cấp đảng ủy cơ sở trở lên, thay vì đảng ủy cấp trên trực tiếp cơ sở trở lên như trước đây.
Làm rõ thời điểm tính thời hạn đình chỉ
Quy định 225-QĐ/TW bổ sung rõ thời điểm bắt đầu tính thời hạn đình chỉ: 90 ngày kể từ ngày ký quyết định, được gia hạn một lần nhưng không quá 30 ngày. Trước đây Quy định 21-QĐ/TW quy định thời hạn 90 ngày và khả năng gia hạn, nhưng chưa ghi rõ mốc tính từ ngày ký quyết định tại khoản này. Đây là sửa đổi có ý nghĩa thực tiễn trong việc theo dõi thời hạn đình chỉ và xác định thời điểm hết hạn hoặc phải xem xét gia hạn.
Quy định chuyển tiếp và hiệu lực thi hành
Quy định 225-QĐ/TW có hiệu lực kể từ ngày ký 14/10/2026 và thay thế Quy định 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026. Đáng chú ý, văn bản mới quy định rõ: đối với trường hợp kiểm tra, giám sát đã thông qua dự thảo báo cáo thẩm tra, xác minh trước thời điểm Quy định 225-QĐ/TW có hiệu lực, việc thực hiện tiếp tục theo Quy định 21-QĐ/TW.
Quy định số 225-QĐ/TW gồm 7 chương, 35 điều, điều chỉnh các nội dung về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thi hành kỷ luật trong Đảng; giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật Đảng; đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp ủy của cấp ủy viên và đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng theo thẩm quyền.
Việc triển khai Quy định mới đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp tổ chức nghiên cứu, quán triệt, rà soát quy trình thực hiện, nhất là những nội dung liên quan đến thẩm quyền, thời hạn, trình tự giải quyết khiếu nại và xử lý các trường hợp chuyển tiếp. Qua đó, bảo đảm công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng được thực hiện thống nhất, đúng quy định, kịp thời và nghiêm minh.
