Thị trường bất động sản nghỉ dưỡng đang bước vào giai đoạn phục hồi với sự trở lại của nguồn cung, song dòng tiền có xu hướng chọn lọc hơn.
Thông tin từ BHS Group cho biết quý 2/2026, phân khúc căn hộ nghỉ dưỡng cao tầng có sự cải thiện rõ rệt về nguồn cung, khi số lượng sản phẩm ra mắt tăng gấp 3,4 lần so với quý trước.

Tuy nhiên, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, phân khúc này ghi nhận hơn 8.140 sản phẩm, giảm 19% so với nửa cuối năm 2025. Tỷ lệ hấp thụ chung đạt 59%, tương đương hơn 4.800 sản phẩm. Đáng chú ý, nhiều dự án mới ra mắt bán hết 100% ngay trong thời điểm mở bán.
Trong đó, quý 2/2026, nguồn cung căn hộ nghỉ dưỡng sử dụng có thời hạn đạt hơn 1.800 căn, tăng gấp 3 lần so với quý trước, tập trung chủ yếu tại miền Bắc và miền Nam. Đặc biệt, Quảng Ninh là địa phương đóng góp nguồn cung lớn nhất, chiếm 64%, tiếp đến là TP. Hồ Chí Minh và Khánh Hòa. Lượng giao dịch trong quý đạt khoảng 1.000 căn, riêng Quảng Ninh chiếm hơn 93% tổng giao dịch. Tính chung 6 tháng đầu năm hấp thụ hơn 1.080 căn.
Đối với căn hộ nghỉ dưỡng sử dụng lâu dài, nguồn cung quý 2/2026 đạt hơn 5.400 căn, trong đó, khu vực miền Nam chiếm 53%. Nguồn cung chủ yếu đến từ các dự án mở bán mới tại Quảng Ninh, Đà Nẵng, An Giang và TP. Hồ Chí Minh. Lượng giao dịch trong quý đạt gần 3.000 căn, chủ yếu đến từ các dự án mới. Lũy kế 6 tháng đầu năm, phân khúc này ghi nhận hơn 3.700 giao dịch, tỷ lệ hấp thụ chung đạt 60%.
Về mặt bằng giá, giá bán căn hộ nghỉ dưỡng cao tầng nhìn chung có sự phân hóa theo từng khu vực. Tại miền Bắc, giá dao động từ 60-85 triệu đồng/m2, riêng TP. Hải Phòng có mức giá lên tới 143 triệu đồng/m2. So với quý trước, giá bán cơ bản đi ngang hoặc chỉ tăng nhẹ khoảng 1%. Tại miền Trung, giá phổ biến trong khoảng 55-90 triệu đồng/m2, mức giá cũng không tăng hoặc tăng nhẹ 1%. Trong khi đó, khu vực miền Nam ghi nhận mức giá từ 87-95 triệu đồng/m2 và gần như không thay đổi so với quý trước.
Bên cạnh phân khúc cao tầng, thị trường nghỉ dưỡng thấp tầng quý 2/2026 cũng ghi nhận sự gia tăng về nguồn cung. Số lượng sản phẩm trong quý tăng gấp 4,7 lần so với quý trước, đạt mức cao nhất trong các quý của 3 năm trở lại đây. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn phân khúc ghi nhận 2.970 sản phẩm. Riêng quý 2/2026, lượng giao dịch đạt hơn 2.090 căn; tính chung 6 tháng đầu năm, thị trường ghi nhận hơn 2.200 giao dịch, với tỷ lệ hấp thụ đạt 74,3%.
Cụ thể với từng loại hình, các sản phẩm nghỉ dưỡng thấp tầng sử dụng có thời hạn vẫn duy trì trạng thái trầm lắng. Trong quý 2/2026, nguồn cung chỉ đạt gần 50 sản phẩm, tập trung tại khu vực miền Bắc và miền Trung. Nguồn cung chủ yếu đến từ những dự án hiện hữu tại Khánh Hòa và Phú Thọ. Giao dịch phát sinh hạn chế, chỉ ghi nhận tại Khánh Hòa, với tỷ lệ hấp thụ đạt 19%.
Ngược lại, sản phẩm nghỉ dưỡng thấp tầng sử dụng lâu dài lại ghi nhận sự tăng trưởng mạnh, dù tập trung cục bộ tại một số khu vực. Quý 2/2026, nguồn cung đạt hơn 2.700 sản phẩm, chủ yếu đến từ sự xuất hiện của các đại dự án. Khu vực miền Bắc chiếm hơn 93% tổng nguồn cung của loại hình này.
Về giá bán, phần lớn sản phẩm nghỉ dưỡng thấp tầng giữ ổn định hoặc chỉ tăng nhẹ so với quý trước. Tại miền Bắc, các thị trường truyền thống như Quảng Ninh tiếp tục duy trì mức giá cao, dao động từ 110-249 triệu đồng/m2; trong khi các khu vực khác phổ biến ở mức 30-60 triệu đồng/m2. Một số dự án ghi nhận mức tăng khoảng 3-6% so với quý trước. Tại miền Trung, giá bán nghỉ dưỡng thấp tầng dao động từ 70-90 triệu đồng/m2, tăng khoảng 2-4% so với quý trước. Trong khi đó, tại miền Nam, mức giá phổ biến từ 48-70 triệu đồng/m2 và không có biến động đáng kể.
Các chuyên gia của BHS Group nhận định đối với phân khúc nghỉ dưỡng cao tầng, dòng vốn đầu tư đang có dấu hiệu quay trở lại, song xu hướng lựa chọn trở nên thận trọng hơn khi người mua ưu tiên các sản phẩm có pháp lý rõ ràng, thời hạn sở hữu lâu dài và khả năng khai thác ổn định.
Trong khi phân khúc nghỉ dưỡng thấp tầng nhìn chung vẫn duy trì trạng thái trầm lắng, với thanh khoản và nguồn cầu chưa có sự cải thiện rõ rệt. Vì vậy, sự phục hồi của phân khúc này sẽ phụ thuộc vào khả năng khai thác vận hành, chất lượng dự án và mức độ phù hợp của sản phẩm với nhu cầu thực tế.