5 giờ sáng, Đồng Văn lạnh căm căm. Sùng Thị May một tay xốc cái gùi bên trong “đựng” cậu em Sùng A Tủa đang say ngủ, tay còn lại nhấc cái túi đựng xủng xoẻng mớ đồ lưu niệm bước ra khỏi nhà rồi cứ thế lút vào sương muối mà đi.
5 giờ sáng, Đồng Văn lạnh căm căm. Sùng Thị May một tay xốc cái gùi bên trong “đựng” cậu em Sùng A Tủa đang say ngủ, tay còn lại nhấc cái túi đựng xủng xoẻng mớ đồ lưu niệm bước ra khỏi nhà rồi cứ thế lút vào sương muối mà đi. Phải cuốc bộ mất gần ba tiếng đồng hồ trên con đường rải đầy đá hộc từ Thài Phìn Tủng, hai chị em mới đến được thị trấn Đồng Văn để mưu sinh.
Quăng quật từ tấm bé
Nhà May nằm lúp xúp dưới chân núi Thài Phìn Tủng (Đồng Văn, Hà Giang). Bố nát rượu, mẹ vừa sinh em bé, vậy là mọi việc đổ lên vai May, khi em vừa tròn 10 tuổi. May gầy nhẳng, nhem nhuốc như chui ra từ bãi than thổ phỉ. Giờ, em vừa là chị cả của ba đứa em, vừa là … trụ cột gia đình. Đám em May, được ăn cơm trắng hay cơm ngô đều phụ thuộc vào số tiền May kiếm được từ việc lẵng nhẵng bám theo mấy ông Tây, bà Đầm để vừa bán đồ lưu niệm vừa… xin tiền.
May nói tiếng Anh bồi như gió, tiếng Việt lơ ngơ vì… khó quá em không học được. Mà May cũng đã đi học một thời gian, nhưng bố toàn lên lớp bắt về trông em. Chưa kịp hết lớp 3 thì May bỏ. Gần 8 tuổi, May bắt đầu “dắt” em trai vào quẩy tấu xuống chợ bán hàng. Ngày trước, May đi cùng mẹ, bà Giàng Thị Háy. Nhưng cứ được vài tháng, bụng mẹ lại lùm lùm lên rồi nghỉ ở nhà chờ sinh em bé, May phải tự đi. Ba đứa em May, đứa nọ còn đương ở truồng, bò lóc nhóc trên nền lều ẩm sướt, nhòe nhoẹt đất, chưa leo qua được cái bậu cửa mốc thếch, đứa khác đã ra đời.
Gần 3 năm nay, tức là ngót nghét nghìn ngày, dù nắng hay mưa May đều đặn cõng em, “cõng” sương mù giá buốt kim châm vượt hơn chục km từ nhà xuống phố cổ Đồng Văn để kiếm tiền. Con đường đó, May đi quen lắm rồi, thuộc như lòng bàn tay. Có nhắm mắt, hai chân May vẫn có thể “nhảy múa” trên đám đá hộc trồ lên tua tủa mà không hề bị ngã.
Hôm tôi gặp May, lúc đó em đang đứng co ro ngoài cửa quán cà phê, nhiệt độ ngoài trời lúc bấy giờ chỉ áng chừng 9 - 10 độ C. Với nhiệt độ như thế, trẻ em ở dưới xuôi đã được nghỉ học để đảm bảo sức khỏe, ấy vậy mà May vẫn chân trần cõng em đi bán hàng rong khi cái rét biên thùy đang giăng mắc. Cả hai chị em đều phong phanh mỗi manh áo mỏng, không đủ che kín lớp da thịt tím tái. Ánh mắt May nhìn khách, vừa thao thiết, vừa như van nài, chờ đợi. Bên trong chiếc quẩy tấu to bè sau lưng cô bé, cậu em A Tủa vẫn nằm thiêm thiếp, thỉnh thoảng mới cục cựa như con mèo say ngủ.

Hai chị em Sùng Thị May
“Sao không để em ở nhà?”, tôi hỏi. “Mẹ bảo, cõng em đi cùng sẽ bán được nhiều hàng hơn!”, May đáp. Hóa ra trong mái đầu lết bết bùn đất kia, có thể May chưa hề ý thức được công việc của mình nó vất vả, cơ cực nhường nào. Em lao động gần như theo bản năng, theo sự sắp đặt của cha mẹ. Chả biết những ông bố, bà mẹ vốn lười nhác với sương mờ non cao của May, những người còn đang bận đánh bạn với rượu trong cái lều ở xó rừng kia, họ nghĩ gì khi quăng con mình ra với đời từ tấm bé? Và, liệu có bao giờ họ chạnh lòng khi nhìn thấy ruột rà máu mủ của mình lê la, lang thang ngoài thị trấn lạnh căm để kiếm tiền? Những câu hỏi đó thật khó có lời hồi đáp.
May kể, những tối trời mưa không về được, em thường ngủ lại thị trấn, vừa để tránh lũ, vừa để tiết kiệm sức cho hành trình ngày hôm sau. Bờ tường, hang hốc, lều quán… bất cứ chỗ nào nhét vừa thân thể hai chị em là May chui vào. Rét thì đốt giẻ rách, các mảnh vụn nilông hoặc bất cứ thứ gì có thể cháy để sưởi. Hai chị em cứ co quắp, chịn tựa vào nhau mãi rồi cũng sang ngày. Sáng sau, có khi chỉ kịp chấm gấu váy lên mắt cho bớt kèm nhèm, May lại gùi em, gùi hàng xuống chợ, mặt mũi không thèm rửa. Mà May cũng chả có nhu cầu rửa. Em cứ vác nguyên khuôn mặt bị ám khói nilông, bị cuộc sống vạ vật hắt lên đi lang thang khắp chợ.
Có lần, sáng dậy thấy cậu em A Tủa mặt mày xám ngoét, lay mãi không thấy cựa quậy, May nhảy choi choi ra khỏi chỗ trú, mồm hét lên ú ớ vài tiếng Kinh kêu cứu. May mà có mấy bà hàng xén người xoa dầu, người đổ sữa nóng vào cái miệng nứt nẻ, xám ngoét để cứu sống thằng em đang lả đi vì lạnh và đói. Ngay buổi trưa hôm đó người ta lại thấy hai chị em bám váy khách Tây nơi cuối chợ, cứ y như thể hai sinh linh bé bỏng kia chưa hề trải qua phút giây thập tử nhất sinh.
Tương lai nào cho những “thiên thần của núi”?
Kể từ khi được xây dựng thành một “địa chỉ đỏ” trong hành trình du lịch vòng quanh cao nguyên đá, Đồng Văn - với những dãy phố cũ, thềm đá, nền đá và những cây cột đá ám khói mèn mén, thắng cố và bễ lò rèn đốt lên từ hàng nghìn phiên chợ miền rừng này như có hồn để níu kéo khách thượng sơn. Nó như một món đặc sản ướp ủ trong giá lạnh, sương muối và những cơn gió cao nguyên khoáng đạt.
Phố cổ Đồng Văn về đêm, thâm nâu, thâm trầm mà vạm vỡ. Đèn lồng đỏ được đốt lên bên hiên những mái nhà cong nghiêng, cũ càng có lớp có trang của cả trăm năm sử núi; xa xa, phía dưới ngọn núi cao vòi vọi đổ bóng là chợ cổ Đồng Văn với hàng chục nghệ nhân trình diễn ca vũ đậm hồn sơn cước. Tất cả những thứ đó hòa quện vào nhau gợi nét đẹp dặm trường, dậy lên cái vẻ phong trần xa ngái.
Thế nhưng, khi đặt chân đến “thiên đường du lịch miền tột Bắc” này, không ít người đã phải chứng kiến thế giới cùng khổ, lấm láp của những đứa trẻ người dân tộc. Năm nào cũng vậy, người ta hô hào gom nhặt, sắp xếp đồng bào vào các dự án du lịch làng nghề, cụm bản, ấy vậy mà chỉ được vài bữa, những đứa trẻ nhem nhuốc lại lếch thếch đeo bám khách đầy đường.

Mẹ May, bà Giàng Thị Háy: “Cho con học vài lớp thôi, còn phải đi bán hàng kiếm tiền chứ!”
Đến Đồng Văn, không khó để bắt gặp những đứa trẻ lôi thôi, lếch thếch ôm đồ thổ cẩm, vòng, đồ lưu niệm chạy theo các đoàn khách du lịch cả trong và ngoài nước. Nhiều đứa cả buổi chỉ bám theo một đoàn khách, lúc nào cũng cố giương lên những món đồ của mình để mong người ta chú ý mà mua.
Có khách phải mua rất nhiều vòng bạc, vòng thổ cẩm với giá vài chục ngàn mà chả biết mua để làm gì. Vì không mua, chỉ có cách cho tiền nếu không muốn bị làm phiền, bị đeo bám. Đám trẻ kia, chúng có thể đi theo đến cửa khách sạn hoặc tận nhà hàng, bán cho kỳ được mới thôi. Nhiều đứa còn dạn dĩ, láu cá đeo vòng vào cổ tay cho khách nói là tặng rồi… đòi tiền.
Cứ mỗi độ tháng 10 và 11 dương lịch, khi khắp cao nguyên đá được khoác lên mình tấm áo sặc sỡ màu tam giác mạch thì cũng là lúc du khách thập phương chen vai đổ về phố cổ Đồng Văn. Thời điểm ấy, đáng lẽ những đứa trẻ phải được đến trường, nhưng ở đây thì không vậy. Bất kể giờ nào trong ngày cũng bắt gặp những đứa trẻ say sưa với cuộc mưu sinh. Trong số những “thiên thần của núi” này, nhiều em cũng chẳng tha thiết gì với chuyện học hành. Và, những em bé như May, như Tủa sẽ chẳng bao giờ nghĩ mình cần phải học thêm cái chữ để làm gì bởi cái triết lý nghe đến xót xa: "Đi học mất tiền, đi bán hàng không mất mà còn được". Em chỉ cần biết ít tiếng Anh bồi là đã có thể kiếm được tiền về nuôi mẹ, nuôi em, và nuôi cả ông bố ngày qua ngày chỉ lặng lẽ ngồi uống rượu.
Cứ thế, với khoảng thời gian kiếm ăn lăn lóc, tả tơi, vạ vật ngoài xã hội nhiều hơn trong vòng tay chăm bẵm cha mẹ, những đứa trẻ kia vốn hồn nhiên như bông hoa dại nơi núi rừng, nay chúng ngày càng tinh ranh đến ngỡ ngàng. Chúng kiếm tiền bằng nhiều cách và mỗi đứa đều có mánh khóe riêng. Nếu khách muốn được nghe chúng múa, thổi khèn hay thậm chí muốn chúng… hôn bạn trai, bạn gái để chụp ảnh đều được, miễn là có thù lao.
Có những cô nàng xinh xắn, chỉ dựa vào vóc dáng trời sinh của mình, đứng ưỡn ẹo cả ngày cho khách chụp ảnh để lấy mấy chục ngàn. Bộ váy áo cô mặc, chiếc ô cô cầm dù có thật 100% của đồng bào cô, dân tộc cô, nhưng cái thần thái trong đôi mắt không còn buồn hoang hoải kia, nhất định là xa lạ rồi, nó không còn thuộc về ngọn núi, con suối, con sông nơi cô ở.
Cái phố cổ, nơi xưa kia mỗi cuối tuần đều diễn ra phiên chợ tình đẹp như cổ tích là thế, giờ vẻ đẹp đó, nét văn hóa trữ tình thậm hoang sơ đó không còn nữa. Nó đã và đang bị tận diệt đến tận cùng bởi sự thương mại hóa của con người. Tiếng khèn của cậu bé, chàng trai Mông thổi ở cái không gian toàn ánh đèn flash không còn mê đắm như nguyên thủy, nó phập phồng, đầy vơi theo nắm tiền “bo” trong cái mũ nồi chìa về phía đám đông. Âm thanh đó, cũng không còn làm líu ríu bước chân sơn nữ, làm rối sợi lanh se. Tan chợ, cũng chẳng còn đôi trai gái nào đội ô tự tình bên triền núi, họ kéo vào xì xụp húp thắng cố, chèm chẹp uống bát rượu ngô rồi tranh thủ lôi tiền ra đong đếm xem đủ mua thỏi son, cái quần bò, cái điện thoại phát ra bản nhạc xập xình hay chưa.
Rời Đồng Văn, người ta không khỏi xót xa khi nét văn hóa sinh hoạt cộng đồng thậm hoang sơ, quyến rũ từ ngàn đời của vùng đất tột bắc này đang dần vuột mất. Những đồng bào Mông, Dao, Tày, Giáy… nơi đây, họ vốn dĩ thật thà, hồn nhiên như hoa cỏ làm sang núi, sáng rừng. Xin hãy để cho những loài hoa ấy sống một cách tự nhiên, lành lẽ nhất, để nó có thể mỉm cười cả trong bình minh lẫn lúc hoàng hôn.