Mô hình đại học - doanh nghiệp: Cần "luật chơi" minh bạch, lâu dài

Minh Anh| 13/12/2022 09:20
Theo dõi Báo điện tử Công lý trên

Mô hình hợp tác giữa đại học với doanh nghiệp đã có từ lâu trên thế giới. Tại Việt Nam, những năm gần đây mô hình này cũng được phát triển mạnh mẽ và góp phần không nhỏ tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Nhưng để mô hình này thật sự hiệu quả thì Nhà nước cần có những "cơ chế đặc thù" để nâng cao vai trò của doanh nghiệp đối với việc đào tạo sinh viên khi hợp tác với trường đại học.

Liên kết đào tạo giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía. Các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các cơ sở đào tạo nắm được nhu cầu của thị trường lao động.

Vì lợi ích của chính mình, hoạt động đào tạo của cơ sở đào tạo luôn hướng tới nhu cầu xã hội, trong đó có nhu cầu doanh nghiệp. Như vậy, các cơ sở đào tạo luôn có nhu cầu phải được gắn kết với doanh nghiệp.

_mg_3066.jpg
Liên kết đào tạo giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía. (Ảnh minh họa)

Hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp được hiểu như sự tương tác trực tiếp hay gián tiếp, giao dịch cá nhân hay không mang tính cá nhân giữa cơ sở giáo dục với các doanh nghiệp để mang lại lợi ích cho các bên.

Bao gồm: hợp tác trong nghiên cứu và phát triển, trao đổi nhân sự (học giả, sinh viên và chuyên gia), thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển, xây dựng và phổ biến chương trình đào tạo, học tập suốt đời, phát triển doanh nghiệp và quản trị.

Mặt khác, nếu cơ sở đào tạo đảm bảo cung cấp những lao động đáp ứng đúng nhu cầu của doanh nghiệp, thì đối với doanh nghiệp đó là điều lý tưởng nhất. Được hợp tác với một cơ sở đào tạo cũng là nhu cầu thiết thực của chính doanh nghiệp. Do đó, mối liên kết này vừa mang tính tất yếu, vừa mang tính khả thi cao trong việc đáp ứng lao động cho doanh nghiệp.

Nhưng điều cần phải nhấn mạnh ở đây là mối liên kết giữa các cơ sở đào tạo với doanh nghiệp không mang tính hỗ trợ từ phía này đối với phía kia, mà là một sự cần thiết khách quan về sự tồn tại và phát triển bền vững chung, bởi tiến trình này đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp, nhà trường và người học.

Ở các quốc gia phát triển, hầu hết những cải tiến công nghệ mang lại hiệu quả kinh tế đều liên quan tới các trường thông qua các hoạt động chia sẻ tri thức, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, vai trò của các trường đối với doanh nghiệp tiếp tục được đề cao.

Chính phủ luôn đóng vai trò quan trọng trong tạo dựng môi trường pháp luật và các chính sách, hình thành liên kết 3 bên: chính phủ - nhà trường - doanh nghiệp.

Trên thế giới, hợp tác đại học - doanh nghiệp được thể hiện ở nhiều hình thức và ở mức độ. Các mức độ hợp tác phổ biến là: tiếp nhận sinh viên đến thực tập, tham quan thực tế, hỗ trợ chi phí và thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập.

Các mức cao hơn là: trao đổi chuyên gia, chia sẻ tri thức, công nghệ; đầu tư cho nghiên cứu, triển khai để cùng sở hữu và chuyển giao công nghệ; cùng đầu tư phát triển doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho xã hội.

Từ những năm 1990, Chính phủ Anh đã bắt đầu có những bước đi thiết thực nhằm khuyến khích sự hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp bằng việc thành lập cơ quan chuyên trách về sáng tạo, đại học và phát triển, các tổ chức như quỹ đổi mới giáo dục đại học và các hội đồng về nghiên cứu để hỗ trợ về vốn và cơ chế cho các hoạt động này.

Ở Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Trung ương Đảng khóa XI khẳng định, các trường đại học phải là các trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống; thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội (chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020); coi doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới ứng dụng và chuyển giao công nghệ, là nguồn cầu quan trọng nhất của thị trường khoa học công nghệ.

Tuy nhiên, so với thế giới, đặc biệt là các quốc gia châu Âu và Mỹ thì đổi mới về vấn đề này ở Việt Nam rất chậm, đặc biệt các chính sách, cơ chế và giải pháp thực thi trong thực tiễn còn thiếu đồng bộ. Các nội dung hợp tác ở các cấp theo xu hướng hội nhập và chia sẻ nguồn lực cùng phát triển trong hợp tác với doanh nghiệp còn hạn chế.

Mới đây, lần đầu tiên một cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư, đó là Đại học Quốc gia Hà Nội - đơn vị được lựa chọn là trung tâm đại học đầu tiên của cả nước thí điểm mô hình hợp tác đối tác công tư (PPP).

Quá trình xúc tiến đầu tư của Đại học Quốc gia Hà Nội đang thúc đẩy có 2 mục tiêu bao trùm. Thứ nhất là xúc tiến đầu tư vào Khu đô thị Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc.

25_3_-toan-canh-truc-tiep.jpg
Ngoài mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước thì một lĩnh vực khác vô cùng quan trọng của trường đại học là nghiên cứu khoa học.

Thứ hai là thu hút các doanh nghiệp biết đến và đầu tư vào các hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây không chỉ là thế mạnh, là ưu tiên của trường mà còn là lĩnh vực giàu tiềm năng nhất mà các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội hợp tác.

Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là thế mạnh của không chỉ Đại học Quốc gia Hà Nội mà còn của rất nhiều cơ sở giáo dục đại học trên toàn quốc.

Trong đó, hoạt động nghiên cứu khoa học diễn ra rất sôi nổi nhưng khả năng thương mại hóa, đưa sản phẩm thị trường rõ ràng vẫn đang là một điểm nghẽn. Điều này chỉ được giải quyết khi có sự tham gia của doanh nghiệp.

Không chỉ là đầu tư vốn, rất nhiều doanh nghiệp đang phát huy vai trò quan trọng trong hợp tác chuyển giao công nghệ và phát triển nghiên cứu khoa học cho khối giáo dục đại học.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mô hình đại học - doanh nghiệp: Cần "luật chơi" minh bạch, lâu dài