Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đề xuất thay đổi cách quản lý theo hướng phân loại thực phẩm dựa trên mức độ nguy cơ, xác định rõ nhóm sản phẩm phải công bố trước khi lưu hành, nhóm được đơn giản hóa thủ tục nhưng vẫn chịu giám sát chặt trên thị trường.
Một trong những thay đổi đáng chú ý trong dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) là việc phân loại thực phẩm để áp dụng các phương thức quản lý khác nhau, thay vì kiểm soát đồng loạt đối với tất cả sản phẩm.
Theo Bộ Y tế, cách tiếp cận này nhằm tập trung nguồn lực quản lý vào những nhóm thực phẩm có nguy cơ cao, đồng thời giảm bớt thủ tục không cần thiết đối với các sản phẩm có mức độ rủi ro thấp nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu an toàn cho người tiêu dùng.
Xác định rõ nhóm thực phẩm phải công bố trước khi lưu hành
Theo dự thảo, đối với thực phẩm sản xuất trong nước, các biện pháp quản lý sẽ được áp dụng tùy theo từng nhóm sản phẩm.
Trong đó, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt và sản phẩm dinh dưỡng dành cho trẻ đến 36 tháng tuổi thuộc nhóm phải đăng ký bản công bố sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. Các sản phẩm này đồng thời chịu sự kiểm tra trong quá trình lưu thông.

Đối với thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, vi chất dinh dưỡng, thực phẩm bổ sung, dụng cụ chứa đựng và vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, tổ chức, cá nhân thực hiện công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định và chịu kiểm tra trong quá trình kinh doanh.
Bên cạnh đó, một số nhóm thực phẩm được đề xuất không phải thực hiện thủ tục công bố trước khi lưu hành nhưng vẫn thuộc diện kiểm tra, giám sát trên thị trường.
Nhóm này gồm thực phẩm tươi sống, thực phẩm sơ chế chưa bao gói; thực phẩm phục vụ phòng, chống dịch bệnh, quốc phòng, an ninh, khắc phục hậu quả thiên tai; thực phẩm chỉ dùng cho sản xuất hàng xuất khẩu hoặc phục vụ nghiên cứu, kiểm nghiệm, triển lãm không nhằm mục đích kinh doanh.
Thực phẩm nhập khẩu được kiểm soát theo mức độ nguy cơ
Đối với thực phẩm nhập khẩu, dự thảo tiếp tục áp dụng các yêu cầu quản lý tương tự thực phẩm sản xuất trong nước, gồm đăng ký bản công bố hoặc công bố tiêu chuẩn áp dụng trước khi lưu hành và kiểm tra trong quá trình kinh doanh trên thị trường.
Đáng chú ý, phương thức kiểm tra an toàn thực phẩm được xây dựng theo hướng quản lý rủi ro, gồm kiểm tra chặt, kiểm tra thông thường và kiểm tra giảm.
Trong đó, kiểm tra chặt áp dụng với các lô hàng có nguy cơ cao, bao gồm kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa và lấy mẫu kiểm nghiệm.
Kiểm tra thông thường thực hiện trên cơ sở kiểm tra hồ sơ, kết hợp kiểm tra ngẫu nhiên một tỷ lệ lô hàng. Trường hợp phát hiện vi phạm, cơ quan chức năng sẽ thực hiện truy xuất nguồn gốc, xử lý và áp dụng các biện pháp phòng ngừa theo quy định.
Với các sản phẩm được sản xuất tại cơ sở đáp ứng những hệ thống quản lý an toàn thực phẩm như GlobalGAP, ASEAN GAP, GMP, HACCP, ISO 22000, FSSC 22000 hoặc hệ thống tương đương, dự thảo cho phép áp dụng phương thức kiểm tra giảm, chủ yếu tập trung vào hồ sơ và kiểm tra ngẫu nhiên.
Tăng giám sát sau lưu hành, kiểm soát kinh doanh thực phẩm trực tuyến
Sau khi thực phẩm được đưa ra thị trường, công tác quản lý sẽ tập trung vào giám sát, kiểm tra, phân tích nguy cơ, xử lý sự cố và truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm không bảo đảm an toàn.

Việc kiểm tra thực phẩm lưu thông trên thị trường sẽ dựa trên cơ sở dữ liệu về kết quả đánh giá nguy cơ, kiểm nghiệm, lịch sử tuân thủ của doanh nghiệp và các sự cố an toàn thực phẩm đã được ghi nhận.
Dự thảo cũng bổ sung quy định kiểm soát hoạt động kinh doanh thực phẩm trên nền tảng thương mại điện tử. Theo đó, cơ sở kinh doanh phải công khai hồ sơ công bố sản phẩm trên sàn thương mại điện tử; đơn vị vận hành nền tảng có trách nhiệm kiểm soát thông tin và chịu trách nhiệm liên đới nếu không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định.
Ngoài ra, các quy định về truy xuất nguồn gốc, thu hồi thực phẩm không bảo đảm an toàn; kiểm soát nguyên liệu, phụ gia và chất hỗ trợ chế biến có nguy cơ bị sử dụng sai mục đích cũng được bổ sung nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro.
Theo Bộ Y tế, việc thay đổi phương thức quản lý theo hướng dựa trên mức độ nguy cơ sẽ giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát an toàn thực phẩm, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh.