Đề xuất xây dựng Luật Định danh và xác thực điện tử, mở rộng quản lý trên môi trường số
Việc xây dựng Luật Định danh và xác thực điện tử nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động định danh, xác thực trên môi trường số, góp phần phòng ngừa tội phạm công nghệ cao, bảo đảm an ninh mạng và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Mở rộng định danh từ con người đến tài sản số
Theo dự thảo, việc xây dựng Luật Định danh và xác thực điện tử xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và bảo vệ quyền con người trên môi trường số. Đây cũng là cơ sở để tăng cường bảo đảm an ninh mạng, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và khả năng ứng phó với các tình huống khẩn cấp.
Từ thực tiễn quản lý, hoạt động định danh không còn giới hạn ở cá nhân mà cần mở rộng sang phương tiện, địa điểm, hàng hóa, bất động sản, hạ tầng kết nối vạn vật và tài sản số.

Việc xây dựng khung pháp lý thống nhất được kỳ vọng góp phần nâng cao độ tin cậy của các giao dịch điện tử, phục vụ phòng ngừa tội phạm mạng, xử lý tình trạng sử dụng SIM nặc danh, tài khoản ảo, lừa đảo trực tuyến và hành vi giả mạo sinh trắc học bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Luật còn tạo cơ sở pháp lý cho việc công nhận danh tính điện tử xuyên biên giới và định danh sản phẩm. Việc chuẩn hóa dữ liệu theo các tiêu chuẩn chung sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế, trong đó có quy định về Hộ chiếu sản phẩm kỹ thuật số của Liên minh châu Âu, góp phần bảo đảm truy xuất nguồn gốc hàng hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Quy định 5 nhóm đối tượng định danh điện tử
Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử tập trung vào 6 nhóm nội dung chính, gồm đối tượng định danh điện tử; mô hình định danh điện tử; Hệ thống định danh và xác thực điện tử; đối tượng, mô hình xác thực điện tử; dịch vụ định danh, xác thực điện tử và nguyên tắc công nhận lẫn nhau đối với danh tính điện tử, kết quả xác thực điện tử của nước ngoài.
Đáng chú ý, dự thảo xác định 5 nhóm đối tượng định danh điện tử, gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân; sản phẩm, hàng hóa, tài sản vật chất và các đối tượng vật chất khác; cơ sở dữ liệu, tệp dữ liệu, hình ảnh, âm thanh, video, ứng dụng, phần mềm và dịch vụ số; sự kiện, giao dịch, hành vi; địa điểm và không gian.

Đối với lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ yếu, Chính phủ được giao quy định việc định danh, xác thực điện tử đối với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý.
Dự thảo cũng đặt ra nguyên tắc thu thập dữ liệu tối thiểu, không thu thập lại dữ liệu đã có; nghiêm cấm sử dụng sinh trắc giả, hình ảnh giả tạo bằng công nghệ hoặc các thủ đoạn gian lận công nghệ khác để tạo lập, giả mạo danh tính điện tử. Quá trình định danh, xác thực phải được ghi nhận, lưu vết, truy vết và bảo đảm trách nhiệm giải trình.
Về mô hình triển khai, dự thảo quy định 2 phương thức định danh điện tử. Theo đó, Nhà nước trực tiếp đầu tư, thiết lập hệ thống, nền tảng để định danh các đối tượng quan trọng như cơ quan, tổ chức, cá nhân; địa điểm, không gian; dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng; đối tượng đã được chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng; sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao và đối tượng thuộc bí mật nhà nước.
Với các đối tượng còn lại, tổ chức đủ điều kiện có thể tự đầu tư hệ thống, nền tảng và hạ tầng để thực hiện định danh điện tử, qua đó thúc đẩy xã hội hóa dịch vụ định danh thương mại.
Tăng cường xác thực, bảo đảm an toàn giao dịch điện tử
Theo dự thảo, Hệ thống định danh và xác thực điện tử gồm Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử; Nền tảng định danh và xác thực điện tử; ứng dụng định danh quốc gia VNeID; hệ thống quản lý hiệu lực của danh tính điện tử và chứng thư điện tử xác nhận thông tin; Cổng định danh và xác thực điện tử quốc gia cùng các phần mềm, ứng dụng, hệ thống thông tin có liên quan.
Các hệ thống thông tin được kết nối nhằm phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và phát triển kinh tế - xã hội.

Về xác thực điện tử, dự thảo quy định mọi đối tượng đã được tạo lập danh tính điện tử và cấp mã định danh theo quy định đều thuộc phạm vi xác thực. Hoạt động này được triển khai theo 3 mô hình, gồm xác thực tập trung, xác thực trung gian và xác thực độc lập.
Đồng thời, dự thảo đặt ra yêu cầu bắt buộc liên kết, xác thực danh tính điện tử đối với giao dịch trên nền tảng số thuộc một số lĩnh vực, nhằm xác định chính xác chủ thể tham gia, nâng cao độ tin cậy và hạn chế nguy cơ gian lận.
Đối với tổ chức cung cấp dịch vụ định danh, xác thực điện tử, dự thảo quy định các điều kiện về tư cách pháp nhân, năng lực tài chính, hệ thống kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin, nhân sự chuyên trách, quy trình nghiệp vụ, bảo vệ dữ liệu người dùng, an ninh mạng, kết nối kỹ thuật và bảo hiểm trách nhiệm.
Những yêu cầu này nhằm nâng cao năng lực quản lý, bảo đảm an toàn thông tin và xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức trong quá trình cung cấp dịch vụ.
Bên cạnh đó, dự thảo quy định nguyên tắc công nhận lẫn nhau đối với danh tính điện tử và kết quả xác thực điện tử của nước ngoài để phục vụ giao dịch xuyên biên giới. Các quy định liên quan tại Luật Giao dịch điện tử, Luật Căn cước, Luật Chuyển đổi số, Luật Thương mại điện tử và Luật Đầu tư cũng được đề xuất sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Việc xây dựng Luật Định danh và xác thực điện tử hướng tới hình thành hành lang pháp lý đồng bộ cho hoạt động định danh, xác thực trên môi trường số; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đồng thời tạo nền tảng thúc đẩy giao dịch điện tử, phát triển kinh tế số, xã hội số và tăng cường hội nhập quốc tế.
