Người muốn trở thành luật sư công sẽ phải trải qua 12 tháng đào tạo nghề luật sư, thời gian tập sự từ 4 đến 12 tháng, tùy từng trường hợp.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP ngày 21/9/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công.

Theo Nghị định, người có bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật được tham dự khóa đào tạo nghề luật sư tại cơ sở đào tạo nghề luật sư để trở thành luật sư công. Thời gian đào tạo nghề luật sư là 12 tháng.
Người hoàn thành chương trình đào tạo được cơ sở đào tạo nghề luật sư cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư.
Nghị định cũng quy định nhiều trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư để trở thành luật sư công, trong đó có giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật; người đã từng là thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 2, bậc 3; kiểm sát viên trung cấp, cao cấp; điều tra viên trung cấp, cao cấp; chấp hành viên cao cấp; thẩm tra viên cao cấp.
Bên cạnh đó, người từng là chấp hành viên trung cấp, thẩm tra viên chính; chuyên viên cao cấp, pháp chế viên cao cấp, thanh tra viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật; chuyên viên chính, pháp chế viên chính, thanh tra viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật cũng thuộc diện được miễn đào tạo.
Người từng là trợ giúp viên pháp lý và có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư cũng được miễn đào tạo nghề luật sư.
Về tập sự hành nghề luật sư để trở thành luật sư công, Nghị định quy định người tập sự phải có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư, văn bản công nhận đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài hoặc thuộc trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư.
Đồng thời, người tập sự phải là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân hoặc người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước; có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính.
Người đã từng là chấp hành viên trung cấp, thẩm tra viên chính; chuyên viên chính, pháp chế viên chính, thanh tra viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật; người đã từng là trợ giúp viên pháp lý hạng II thì thời gian tập sự là 4 tháng.
Người đã có thời gian giữ ngạch chuyên viên, pháp chế viên, thanh tra viên, nghiên cứu viên, giảng viên trong lĩnh vực pháp luật; thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 1 từ 10 năm trở lên; người đã từng là trợ giúp viên pháp lý hạng III thì thời gian tập sự là 6 tháng.
Người đã có thời gian giữ ngạch chuyên viên, pháp chế viên, thanh tra viên, nghiên cứu viên, giảng viên trong lĩnh vực pháp luật; thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 1 dưới 10 năm thì thời gian tập sự là 12 tháng.
Người muốn tập sự hành nghề luật sư được lựa chọn tập sự tại một tổ chức hành nghề luật sư hoặc tại cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư tập sự.
Tổ chức hành nghề luật sư nhận tập sự hoặc cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư tập sự có trách nhiệm cử luật sư hướng dẫn và gửi văn bản tiếp nhận tập sự cho Đoàn Luật sư nơi đăng ký tập sự.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản tiếp nhận tập sự, Đoàn Luật sư ban hành quyết định tập sự, trong đó nêu rõ tên luật sư tập sự, tên luật sư hướng dẫn, nơi tập sự và thời gian tập sự.
Đoàn Luật sư nơi có trụ sở của cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư tập sự thực hiện việc đăng ký tập sự.
Theo Nghị định số 364, luật sư công làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, ngoài tiền lương còn được hưởng mức hỗ trợ hằng tháng. Mức hỗ trợ do luật sư công và doanh nghiệp nhà nước thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Khoản hỗ trợ hằng tháng do cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư công chi trả cùng kỳ lương. Ngoài khoản hỗ trợ hằng tháng và bồi dưỡng theo vụ, việc, luật sư công còn được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định tại Điều 10 của Nghị quyết số 24/2026/QH16.
Nghị định số 364/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2026 đến khi Nghị quyết số 24/2026/QH16 hết hiệu lực thi hành.