Đại biểu Quốc hội kiến nghị hỗ trợ sinh kế, bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân
Một số đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung cơ chế hỗ trợ cộng đồng ven biển bị ảnh hưởng bởi các dự án, đồng thời quy định rõ trách nhiệm bảo đảm lối tiếp cận biển công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Chiều 6/11, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại hội trường về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Trong đó, cơ chế hỗ trợ chuyển đổi sinh kế cho cộng đồng dân cư ven biển bị ảnh hưởng bởi các dự án và bảo đảm quyền tiếp cận biển công cộng của người dân là những vấn đề được các đại biểu quan tâm.
Không để người dân mất sinh kế khi triển khai dự án biển
Góp ý về chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ) cho rằng, Điều 47 dự thảo luật đã quy định về hỗ trợ chuyển đổi sinh kế và xác định mức độ ảnh hưởng của dự án là một tiêu chí hỗ trợ. Tuy nhiên, dự thảo chưa làm rõ trách nhiệm lập phương án, nguồn kinh phí và thời điểm triển khai hỗ trợ đối với cộng đồng bị ảnh hưởng trực tiếp.

Theo đại biểu, trong quá trình sử dụng không gian biển, cần quan tâm cả những người dân có hoạt động mưu sinh hợp pháp nhưng không thuộc đối tượng có quyền sử dụng khu vực biển bị thu hồi. Nếu chỉ xem xét hỗ trợ trong trường hợp thu hồi khu vực biển thì có thể bỏ sót những người bị giảm thu nhập hoặc phải chuyển đổi nghề nghiệp do tác động của dự án.
Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định sau khoản 3 Điều 47 theo hướng: Đối với cộng đồng dân cư ven biển có sinh kế hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án sử dụng không gian biển, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức xác định đối tượng, mức độ ảnh hưởng và phê duyệt phương án hỗ trợ. Phương án này phải được tham vấn cộng đồng, công khai về đối tượng, nội dung, kinh phí, tiến độ và trách nhiệm thực hiện; bảo đảm các biện pháp hỗ trợ cần thiết được triển khai trước khi dự án làm gián đoạn sinh kế của người dân.
Đại biểu cũng đề nghị giao Chính phủ quy định rõ trách nhiệm đóng góp kinh phí của chủ dự án tương ứng với mức độ tác động, phần kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và nguyên tắc không chi trả trùng lặp cho cùng một đối tượng.
Đặc biệt, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế phải hướng đến giải quyết việc làm và bảo đảm thu nhập thực tế. Người dân cần được biết rõ sau khi thay đổi hoạt động sản xuất, họ có thể làm công việc gì, được hỗ trợ cụ thể ra sao và cơ quan nào chịu trách nhiệm theo dõi, hỗ trợ.

Cùng quan tâm đến chính sách hỗ trợ cộng đồng ven biển, đại biểu Lê Hữu Trí (đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa) cho rằng, các điều từ Điều 40 đến Điều 47 dự thảo luật đã đề cập chính sách ưu đãi, hỗ trợ, huy động nguồn lực xã hội và hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển. Tuy nhiên, cần bảo đảm các chính sách này được triển khai thực chất, tránh chỉ dừng lại ở những quy định mang tính khuyến khích.
Theo đại biểu, khi một khu vực biển được chuyển đổi mục đích sử dụng để phục vụ dự án kinh tế hoặc hình thành khu vực bảo tồn, cần đánh giá đầy đủ tác động đến ngư dân, người làm nghề biển, hoạt động nuôi trồng thủy sản và các dịch vụ công cộng.
Cùng với đó, cần có cơ chế hỗ trợ chuyển đổi nghề, đào tạo kỹ năng, tạo việc làm mới và phục hồi sinh kế; đồng thời tạo điều kiện để cộng đồng tham gia và hưởng lợi hợp lý từ các hoạt động phát triển kinh tế biển.
Không để quyền tiếp cận biển phụ thuộc vào chủ đầu tư
Một vấn đề khác được đại biểu Lê Hữu Trí quan tâm là bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân và lợi ích của cộng đồng ven biển. Theo đại biểu, dự thảo luật đã có nhiều quy định liên quan, như Điều 9 về quyền tiếp cận biển của người dân; Điều 10 về sự tham gia của cộng đồng; Điều 23 về xây dựng, quản lý đảo nhân tạo và công trình trên biển; Điều 52 về các hành vi bị cấm, trong đó có hành vi chiếm dụng, rào chắn, xây dựng công trình trái pháp luật làm mất lối đi tiếp cận biển công cộng.
Tuy nhiên, cơ chế thực thi cần được làm rõ hơn. Nếu không kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu quy hoạch, giao khu vực biển và phê duyệt dự án, việc khôi phục lối tiếp cận biển cho người dân sau khi công trình hoàn thành sẽ rất khó khăn.
Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc các dự án ven biển, lấn biển, xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi biển công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng.
Đồng thời, không được biến quyền tiếp cận biển hợp pháp của người dân thành quyền phụ thuộc vào sự cho phép của chủ đầu tư. Cần quy định cơ chế công khai quy hoạch, tham vấn cộng đồng thực chất và xử lý nghiêm hành vi chiếm dụng không gian biển công cộng.

Giải trình về những nội dung đại biểu quan tâm, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho biết, Chính phủ sẽ tiếp thu các ý kiến xác đáng của đại biểu Quốc hội để tiếp tục hoàn thiện dự án luật trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua.
Liên quan đến quyền tài sản, giao dịch, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và bảo đảm quyền lợi của người dân, Phó Thủ tướng cho biết, Chính phủ chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện các quy định về quyền chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp, phù hợp với hình thức sử dụng và điều kiện của từng đối tượng.
Đối với việc thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, dự thảo đã làm rõ căn cứ thu hồi nhằm bảo đảm quyền lợi của người sử dụng biển; xác định cụ thể quyền sử dụng, nghĩa vụ thực hiện, tài sản và chi phí hợp pháp.
Về các quy định chuyển tiếp, dự thảo luật thiết lập cơ chế bảo đảm quản lý liên tục, kế thừa hồ sơ, kết quả giải quyết, không làm gián đoạn hoạt động của người dân và doanh nghiệp. Đối với các cá nhân đang nuôi trồng thủy sản nhưng chưa được giao khu vực biển, việc giải quyết phải gắn với hiện trạng, phương án sắp xếp, nghĩa vụ tài chính và hỗ trợ sinh kế.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho biết, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tiếp thu ý kiến đại biểu, khẩn trương hoàn thiện dự án luật để trình Quốc hội xem xét, thông qua.
