Báo Công lý
Thứ Tư, 26/2/2020

Chòng chành kiếp mưu sinh trên biển

11/11/2015 07:49 UTC+7
(Công lý) - Trải dài từ vùng biển Cần Giờ đến chót mũi Cà Mau, nghề đóng đáy hàng khơi suốt hàng trăm năm qua đã là kế mưu sinh của nhiều thế hệ cư dân ven biển miền Tây Nam Bộ.

Những năm đầu của thế kỷ 21, hình thức lao động và sự mạo hiểm của nghề này cũng vẫn không khác xưa là mấy. Dẫu là những tay "cự phú" miền Tây giàu bạc tỷ hay dân bạn chòi lang bạt kỳ hồ thì khi cây cột đáy được cắm vào lòng biển, cũng có nghĩa là họ đã bắt đầu cuộc chơi được - mất với thiên nhiên.

Theo bước chân mở đất

Có lẽ, không cần phải tô vẽ gì thêm thì hẳn ai cũng hiểu rằng, nghề đi biển vốn là một trong những nghề có nhiều bất trắc nhất. Tính mạng và tài sản của con người gần như phụ thuộc hoàn toàn vào sự run rủi của thiên nhiên. Chỉ cần một cơn áp thấp hoặc cơn bão biển nào đó cũng có thể quăng xé và nhấn chìm bất cứ thứ gì nó gặp. Vậy mà hàng trăm năm trước đây, những cư dân Việt từ Nam Trung Bộ theo bước chân mở đất đã biết vươn khơi bằng nghề đi biển, trong đó có nghề đóng đáy (phương pháp đánh bắt hải sản bằng cách đặt những tấm lưới hình ống theo những dòng chảy mạnh ngoài khơi).

Ông Nguyễn Văn Bình (63 tuổi), một ngư dân ở xã Đất Mũi (huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau) cho biết, đáy là tên gọi của một loại ngư cụ được dệt thành những tấm lưới hình ống để đánh bắt thủy hải sản theo dòng nước. Khi được đưa ra biển, những tấm đáy có chu vi hàng mét được buộc chặt vào hệ thống gồm nhiều cột đáy được chôn sâu dưới biển. Mỗi cột cách nhau khoảng 10m nằm chắn ngang dòng nước cùng với nhiều ngư cụ phụ trợ khác như đõi đáy, nèo đáy, rượng đáy...

Cứ khoảng năm cột đáy thì sẽ có một chòi canh dành cho người canh đáy ăn ngủ trong suốt mùa, có khi kéo dài đến vài ba tháng. Toàn bộ hệ thống kể trên được gọi bằng một cái tên chung là "hàng đáy". Và cách gọi những ngư dân mưu sinh bằng nghề này cũng theo thế mà qui ước. Nếu là người bỏ tiền của để đầu tư ghe thuyền, hàng đáy được gọi là "chủ đáy", còn là dân nghèo đi đóng đáy thuê thì gọi là "bạn đáy". "Bạn đáy" cũng chia thành hai loại: Dân "bạn ghe" - cách gọi những ngư dân làm thuê có nhiệm vụ chạy ghe ra ngoài đáy vào lúc "đổ đục" (lúc lên lưới), đưa tôm cá vào bờ và dân "bạn chòi" là những ngư dân khai thác, có nhiệm vụ túc trực trong các chòi đáy ngoài khơi từ một tuần đến mười ngày theo con nước để thu gom cá.

Chòng chành kiếp mưu sinh trên biển

Phơi mình giữa biển

Khi thu đáy, hai người đàn ông to khỏe phải lặn xuống kéo túi lưới lên, hai người ở trên có nhiệm vụ dốc cá tôm vào khoang. Ngoài ra, việc thả lại đáy và ghim cho chúng nằm sát dưới đáy biển, thuận theo chiều con nước chảy cũng rất nguy hiểm, cần những thợ đáy lành nghề, có sức khỏe dẻo dai. Với 8 khẩu đáy, sau hơn 2 tiếng thu hoạch, tàu anh Ba cũng được gần 4 thùng ruốc kèm theo ít bạch tuộc, mực và ghẹ con.

Theo lời kể của một số dân "hàng đáy" khác thì nơi xuất tích của nghề đóng đáy là ngôi làng cổ Long Hậu (nay thuộc xã Mỹ Long Bắc, Mỹ Long Nam và thị trấn Mỹ Long, tỉnh Trà Vinh). Bắt đầu từ thập niên 70 thế kỷ 19, khi kỹ thuật đi buồm dần thay thế cho phương pháp sử dụng ghe chèo, dân hàng đáy Mỹ Long từ chỗ chỉ luẩn quẩn đánh bắt nơi cửa sông cửa biển đã rùng rùng chuyển động, tạo nên một làn sóng lớn mạnh trong việc đưa "hàng đáy" ra xa hơn nữa để đánh bắt được nhiều loại hải sản có giá trị hơn. Cư dân ở các làng biển lân cận cũng theo đó mà rầm rộ phát triển, hàng trăm "hàng đáy" giăng mắc chập chùng ngày một vươn mãi ra biển và cứ thế tiến dần xuống phía Nam.

Không chỉ dừng lại ở đó, ngay từ đầu những năm 60 thế kỷ trước, những công dân biển quen dọc ngang bờ bãi này đã nhanh chóng tiếp cận được kỹ thuật đóng ghe thuyền từ các nước trong khu vực. Sức gió, sức chèo dần được thay bằng các loại máy tàu tạo sức đẩy tốt hơn. Trai biển Mỹ Long cùng với sự vươn khơi của nghề đáy biển đã tạo lập thêm nhiều xóm đáy ven biển trù phú còn tồn tại cho đến tận ngày nay như Định An, Gành Hào (Bạc Liêu), Đá Bạc, Rạch Sỏi (Cà Mau)...

Về sau, khi nghề đáy hàng khơi được chính quyền hợp tác hóa thì nghề này đã được truyền dạy cho ngư dân nhiều tỉnh như Cà Mau, Kiên Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu và trở nên phổ biển khắp miền duyên hải  miền Tây Nam Bộ. Hiện nay, suốt dọc theo vùng biển từ Cần Giờ đến Mũi Cà Mau, ước tính phải có đến cả nghìn hộ làm nghề đóng đáy và có ít nhất trên hàng chục nghìn nhân công làm thuê

 Đánh bạc cùng thiên nhiên

Có lẽ, không cần phải tô vẽ gì thêm thì hẳn ai ai cũng hiểu rằng, nghề đi biển vốn là một trong những nghề có nhiều bất trắc nhất. Tính mạng và tài sản của con người gần như phụ thuộc hoàn toàn vào sự rủi may và những bất trắc tiềm ẩn của giông gió, sóng lừng chỉ chực chờ một cơn áp thấp nào đó để bất thần "hội quân" lại thành những cơn bão biển, quăng xé và nhấn chìm bất cứ thứ gì trên đường đi của nó. Những năm đầu của thế kỷ 21, hình thức lao động và sự mạo hiểm của nghề đáy hàng khơi cũng vẫn không khác xưa là mấy. Dẫu là những tay "cự phú" miền Tây giàu bạc tỷ hay dân bạn chòi lang bạt kỳ hồ thì khi cây cột đáy được cắm vào lòng biển, cũng có nghĩa là họ đã bắt đầu cuộc chơi được - mất với thiên nhiên.

Nhiều năm trở lại đây, khi nguồn lợi thủy sản ven bờ dần cạn kiệt, dòng chảy của chín nhánh Cửu Long cũng dần suy yếu và lượng cá tôm không còn phong phú do các quốc gia đầu nguồn Mêkông đắp đập ngăn dòng thì những giàn đáy hàng khơi lại càng bị đẩy ra xa hơn nữa mới mong trúng cá. Nhưng, xa nhất thì cũng chỉ có thể nằm cách bờ chừng mười lăm đến hai mươi hải lý, thuộc vùng nước giáp ranh mà dân địa phương gọi là vùng giáp ngời.

Để có tiền đầu tư vào "hàng đáy" là một bài toán không đơn giản. Ông Nguyễn Văn Lẹ, một chủ đáy ở ấp Kinh Đào, xã Đất Mũi cho biết hiện gia đình có khoảng gần chục "hàng đáy" và thuê hơn 30 bạn đáy do con trai ông trực tiếp quản lý. Trước đây, cột đáy thường là thân cây dừa hoặc cây sao thì ngày nay, để cột đáy có thể đứng vững ở vùng nước sâu đến vậy, gia đình ông Lẹ phải đặt mua một loại cây cao trên hai mươi mét được gọi là cây kè, thuộc họ cọ dừa từ Tây nguyên. Mỗi cây có giá hàng chục triệu đồng, cá biệt có những cây lớn, thẳng có giá lên đến cả cây vàng. Tính sơ sơ thì mỗi một "hàng đáy" phải cần tới trên ba trăm triệu.

Chòng chành kiếp mưu sinh trên biển

Ông Nguyễn Văn Bình: “Nghề đáy ẩn chứa quá nhiều rủi ro...”

Số tiền đầu tư ấy không hề nhỏ, thế nhưng nếu không may gặp phải bão lớn thì cả giàn đáy hàng tỷ đồng của gia đình ông Lẹ có thể trong phút chốc tan biến cùng bọt biển và hàng chục bạn đáy cũng sẽ lao đao. Cơn cuồng nộ của biển không nương tay với những cây cột được tính bằng vàng hay tính mạng những "bạn chòi" lẻ loi đơn chiếc trên những chiếc chòi đáy mỏng manh giữa biển khơi. Đã có hàng trăm "chủ đáy" phút chốc tiêu tan sự nghiệp và hàng trăm "bạn chòi" nằm lại dưới đáy đại dương. Và sau mỗi cơn cuồng nộ ấy, những làng biển trải dọc từ Cần Giờ đến chót cùng Cà Mau sẽ lại có thêm nhiều góa phụ, dần dà tạo nên những "xóm không chồng".

Ở xóm đáy Rạch Tàu còn có một "đại gia" được nhiều người biết tiếng là ông Ba Sỹ, người sở hữu một trăm sáu mươi miệng đáy. Mấy trăm hộ trong xóm hầu hết đều là người làm công cho gia đình ông. Tiền trả công cho người làm thuê được tính bằng chính số hải sản mà họ thu được. Mỗi bạn chòi được phân công trông giữ năm miệng đáy và được hưởng lợi hoàn toàn từ một trong số năm miệng đáy mà mình phụ trách. Mỗi chòi đáy dựng giữa biển là vừa là nơi làm việc lẫn nơi sinh hoạt của hai bạn chòi trong suốt thời gian từ một tuần đến mười ngày tùy theo tình hình con nước.

Với nghề đáy hàng khơi, người ta có thể đánh bắt thủy hải sản quanh năm, nhưng đặc biệt "trúng" đậm vào mùa gió Nam (từ tháng 3 đến tháng 6) và mùa gió chướng (từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch). Các chủ đáy và dân bạn chòi sẽ tùy vào tình hình con nước để cân nhắc thời điểm đặt lưới khai thác. Anh Mai Kxieng - một "bạn chòi" người dân tộc Khơme đến từ huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau làm thuê cho gia đình ông Hai Sộ cho biết, thu nhập trung bình của mỗi "bạn chòi" như anh tùy thuộc và tình hình con nước. Ngày thì bám biển, nương theo con nước chảy để đóng đáy, đêm xuống thì phải thay nhau thức canh chừng. Khi đáy đã "khẳm" thì liên lạc với "bạn ghe" đưa tàu ra "đổ đục" và chuyển tôm cá vào bờ. Mỗi con nước như vậy, nếu trúng cũng được chia phần từ hai đến ba triệu đồng, còn nếu không thì coi như công toi, may ra vớt vát được vài trăm ngàn cho vợ đổi gạo.

Đêm thượng tuần tháng 9, chúng tôi có dịp ngồi nhậu chung với gần chục thanh niên làm dân bạn chài vừa theo ghe về nghỉ. Mùi biển còn nồng nã khiến cuộc nhậu vừa gần gũi, vừa phóng khoáng kiểu "tứ hải giai huynh đệ". Cuộc nhậu “sương sương”, người cười, kẻ khóc, có người hứng chí ca dăm câu vọng cổ nghe mùi đời lạ. Giữa mênh mông biển này, trời này, chúng tôi cảm nhận từ họ nỗi cô đơn, sự bất cần, thách thức với thiên nhiên.

Sớm ngày mai, ghe đáy của gia đình chú Tư Hiệp sẽ trục neo đưa năm cây kè mới ra biển để dựng thêm một giàn đáy mới. Lại thêm một cuộc đặt cược trước biển. Nhưng vượt lên trên mọi sự thua thiệt, sự khó khổ và nguy hiểm, họ đã học được cách thương nhau để khỏi cô độc trước trùng dương.

Nam Hoàng
Bạn đang đọc bài viết Chòng chành kiếp mưu sinh trên biển tại chuyên mục Xã hội của Báo điện tử Công lý. Mọi thông tin chia sẻ, phản hồi xin gửi về hòm thư conglydientu@congly.vn, Hotline 091.2532.315 - 096.1101.678

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật