Báo Công lý
Thứ Bảy, 06/6/2020

Góp ý dự thảo Luật Đất đai sửa đổi: Quy định "đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu" là phù hợp

27/3/2013 08:40 UTC+7
Một vấn đề đang được dư luận quan tâm và có ý kiến khác nhau đó là xác định quyền sở hữu đất đai.

Điều 12 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” đã thể hiện ý nguyện của đại đa số nhân dân Việt Nam.

“Phá bỏ cái vòng luẩn quẩn” 

Về xác định quyền sở hữu đất đai, quy định tại Điều 12 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi về xác định quyền sở hữu đất đai là phù hợp. Điều 12 quy định như sau: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Quy định này kế thừa Luật Đất đai các năm 1987, 1993 và năm 2003, đồng thời thể hiện ý nguyện của đại đa số nhân dân Việt Nam về đặc thù của đất đai Việt Nam là mỗi tấc đất trên lãnh thổ CHXHCN Việt Nam hiện có thì nhiều thế hệ người Việt Nam đã phải hy sinh xương máu, mồ hôi, nước mắt mới có được và nhiều thế hệ người Việt Nam cũng phải hy sinh xương máu để giữ đất đai bờ cõi.

 

Có ý kiến cho rằng Nhà nước giao cho người sử dụng đất có nhiều quyền bao gồm quyền sử dụng, quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất… nhưng Nhà nước lại không giao cho người sử dụng đất được quyền định đoạt đất đai là không đầy đủ.

 

Ý kiến này thực chất là yêu cầu Nhà nước ta xác định quyền sở hữu đất đai thuộc về tư nhân. Vì theo pháp luật dân sự thì quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. Nhân dân ta đấu tranh mấy chục năm để người cày có ruộng, nay người cày có ruộng mà đất đai thuộc sở hữu tư nhân là tái lập lại cảnh người cày không có ruộng, vì người giàu sẽ mua lại đất đai để thành các chủ đất, còn gọi là địa chủ. Cái vòng luẩn quẩn đó cứ bao quanh người nông dân. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu cũng là để Nhà nước phá bỏ cái vòng luẩn quẩn đó.

 

Hạn chế dự án “treo”

 

Về Điều 15 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi: Điều này quy định về Nhà nước quyết định thu hồi đất và có nội dung là: “Thu hồi để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng… để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội…”. Về quy định này, chúng tôi thấy rằng: Ở nước ta Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội đã được gần 20 năm nay và thực tế cho thấy là: Có dự án là xây dựng khu công nghiệp nhưng sau đó biến thành khu nhà ở. Giá đất bồi thường theo khung giá của Nhà nước là quá thấp, người được bồi thường bằng tiền được nhận một số tiền rất ít nên gặp nhiều khó khăn trong đời sống thường ngày. Việc thực hiện thu hồi đất có nhiều tiêu cực, phát sinh mâu thuẫn trong nhân dân nhưng không có người giải quyết minh bạch. Có nhiều dự án treo trong nhiều năm gây lãng phí đất, trong khi đó người bị thu hồi đất không có đất canh tác…

 

Góp ý dự thảo Luật Đất đai sửa đổi: Quy định "đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu" là phù hợp

Ảnh minh họa

 

Do đó, trong Điều 15 dự thảo Luật Đất đai sửa đổi không nên quy định nội dung Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Có như vậy mới hạn chế đến mức thấp nhất về dự án “treo” gây lãng phí đất, về tiêu cực trong thu hồi đất, về đời sống của người bị thu hồi đất… Trong trường hợp có dự án phát triển kinh tế - xã hội thì nhà đầu tư trao đổi trực tiếp với người sử dụng đất về đất sử dụng, về giá đất bồi thường, về thời gian giao và nhận đất…

 

Trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp tỉnh và cấp huyện

 

Về Điều 7 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, quy định về người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với đất được giao để quản lý. Theo điều này thì có 4 người phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với đất được giao để quản lý là: người đứng đầu của tổ chức; Chủ tịch UBND cấp xã chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất sử dụng vào mục đích công cộng được giao để quản lý, đất chưa giao, đất chưa cho thuê; Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất chưa sử dụng tại các đảo chưa có người ở thuộc địa phương; Người đại diện của cộng đồng dân cư chịu trách nhiệm đối với đất giao cho cộng đồng dân cư để bảo vệ và phát triển rừng. Quy định trong Điều 7 của dự thảo nêu trên thì người chịu trách nhiệm cao nhất là Chủ tịch UBND cấp xã. Vì phải chịu trách nhiệm đối với 4 loại đất được giao là: đất sử dụng vào mục đích công cộng, đất được giao để quản lý, đất chưa giao, đất chưa cho thuê. Trong khi đó thì trình độ quản lý hạn chế, người giúp việc quá ít.

 

Người chịu trách nhiệm nhẹ hơn là người đứng đầu của tổ chức được giao quản lý một số đất trong phạm vi hẹp và Chủ tịch UBND cấp tỉnh có đảo mà đảo đó chưa có người ở, còn đảo có người ở thuộc địa phương mà xảy ra việc gì đối với đất trên đảo thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh không phải chịu trách nhiệm. Người không phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với đất được giao để quản lý là Chủ tịch UBND cấp huyện và Chủ tịch UBND cấp tỉnh không có biển hoặc có biển nhưng không có đảo không có người ở thuộc địa phương. Trong khi đó các Chủ tịch này quản lý khá nhiều đất đai thuộc lãnh thổ huyện, tỉnh theo địa giới hành chính.

 

Vì vậy, đề nghị sửa Điều 7 về các nội dung sau: Bổ sung quy định Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất đai trong phạm vi địa giới hành chính của cấp mình. Sửa đổi quy định tại điểm c khoản 1 Điều 7: Trong điểm c có quy định “…đất có mặt nước chuyên dùng”. Nhưng loại đất “có mặt nước chuyên dùng” này lại chưa được quy định trong Điều 9 là điều quy định về phân loại đất. Do đó cần sửa đổi để phù hợp với các loại đất có quy định tại Điều 9 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi. 

 

Đỗ Văn Chỉnh

 

 

Tag :

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật