Báo Công lý
Thứ Hai, 25/5/2020

Các chuyên gia bàn về Giải pháp khởi kiện Trung Quốc

21/6/2014 08:28 UTC+7
Đứng trước hành động ngang ngược của Trung Quốc, hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng biển thềm lục địa và đặc quyền kinh tế Việt Nam, chúng ta đã kiên trì các biện pháp ngoại giao, các biện pháp xua đuổi trực tiếp trên biển…

Giải pháp văn minh

 

PGS. TS Nguyễn Bá Diến - Chủ tịch Hội đồng Viện Nghiên cứu Khoa học biển và Hải đảo, Chủ nhiệm Bộ môn Luật Quốc tế, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Giám đốc Trung tâm Luật biển và Hàng hải Quốc tế cho biết: Trả lời báo giới quốc tế, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng từng phát biểu “Việt Nam cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế”. Đây là phát biểu thể hiện tâm thế chính nghĩa của Việt Nam, thể hiện sự nghiêm túc của chúng ta trong xử lý, giải quyết các vấn đề tranh chấp nói chung và tranh chấp trên biển nói riêng.

 

Trong lời phát biểu của Thủ tướng cũng có nghĩa chúng ta phải áp dụng mọi biện pháp để tự vệ, trong đó có giải pháp pháp lý. Điều này thể hiện vị thế vừa tự tôn, vừa đĩnh đạc, vừa nghiêm túc nhưng đồng thời cũng thể hiện được rằng sử dụng giải pháp pháp lý là giải pháp văn minh và đây là điều bất đắc dĩ chúng ta phải sử dụng để bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước.

 

Trên thực tế, Nhà nước Việt Nam (qua các thời kỳ) đã chiếm hữu thật sự và công khai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa khi mà các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào. Từ đó đến nay, suốt trong mấy thế kỷ, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự và liên tục chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.

Các chuyên gia bàn về Giải pháp khởi kiện Trung Quốc

Tàu Trung Quốc uy hiếp tàu cá của ngư dân Việt Nam

Việc xác lập chủ quyền biển, đảo Việt Nam phù hợp các quy định của pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển Liên hợp quốc 1982, hệ thống pháp luật biển, đảo Việt Nam xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển: nội thủy, lãnh hải (thuộc chủ quyền), vùng tiếp giáp, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán).

 

Nhưng hiện nay hai quần đảo này đang bị chiếm đóng hoàn toàn (quần đảo Hoàng Sa) hoặc chiếm đóng một phần (quần đảo Trường Sa) một cách bất hợp pháp khiến cho quá trình thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam bị cản trở, thậm chí bị xâm phạm nghiêm trọng.

 

Đặc biệt, ngày 7/5/2009, Trung Quốc công khai đường yêu sách “đường lưỡi bò” trên Biển Đông xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei trong các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; các quyền tự do hàng hải của các quốc gia khác trên khu vực Biển Đông.

 

Gần đây nhất là vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép và duy trì giàn khoan Hải Dương 981 tại vị trí nằm hoàn toàn trong giới hạn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam (cách đảo Lý Sơn 120 hải lý, cách ranh giới ngoài vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam 80 hải lý), bất chấp luật pháp quốc tế, phản ứng mạnh mẽ của Việt Nam và thế giới. Đây là hành vi ngang ngược chưa từng thấy.

PGS. TS. Luật sư Nguyễn Bá Diến khẳng định, chúng ta có chính nghĩa, có đạo lý và pháp lý. Ngày nay, các quan hệ quốc tế được đa dạng hóa, đa phương hóa. Nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 180/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc. Đó là những tiền đề thuận lợi cho việc huy động và kết hợp chặt chẽ hai nguồn lực to lớn - sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại - trong sự nghiệp bảo vệ đất nước hiện nay.

Các chuyên gia bàn về Giải pháp khởi kiện Trung Quốc

TS. Trần Công Trục

Việt Nam có thể sử dụng để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình thông qua việc tận dụng, phát huy các thế mạnh về cơ sở pháp lý và lịch sử đang có. Hơn nữa, thông qua việc sử dụng các luận cứ, luận chứng pháp lý được xây dựng trên cơ sở pháp luật quốc tế - cán cân công lý của thời đại, được cả cộng đồng quốc tế  xây dựng và tuân thủ càng tiếp thêm sức mạnh chính nghĩa của Việt Nam trước cộng đồng khu vực và quốc tế. 

 

TS. Luật sư Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Nghiên cứu Chính sách pháp luật và Phát triển cũng cho rằng: Việt Nam chủ trương đấu tranh hoà bình, nhưng đây không còn là câu chuyện để đàm phán nữa. Bởi đây là câu chuyện về quyền và quyền chủ quyền trên vùng biển đã được xác định là của Việt Nam.

 

“Những hành động sai trái của Trung Quốc diễn ra nhiều lần, liên tiếp, nghiêm trọng. Đây là những chứng cứ rõ rệt, chứ không còn là hành vi mang tính hành chính đơn phương như tuyên bố vùng cấm đánh bắt cá, đánh bắt thuỷ sản. Việt Nam phải khẩn trương tiến hành các thủ tục pháp lý để khởi kiện Trung Quốc ra các toà án quốc tế”, TS Giao khẳng định.

Các chuyên gia bàn về Giải pháp khởi kiện Trung Quốc

Luật sư Trinh Nguyễn

Theo TS Giao, Việt Nam có thể khởi kiện hai vụ kiện. Vụ thứ nhất là kiện giữa quốc gia với quốc gia. Chính phủ Việt Nam có thể kiện Chính phủ Trung Quốc. Việt Nam có thể lập các hồ sơ, thủ tục theo quy định của Toà án Luật Biển quốc tế để kiện Trung Quốc về việc xâm phạm quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Rộng hơn, lâu dài hơn chúng ta có thể kiện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam ra Toà án Công lý quốc tế của Liên hợp quốc.

 

Luật sư Trinh Nguyễn, tốt nghiệp Thạc sĩ luật tại Đại học Queensland University (Australia), có kinh nghiệm làm việc với nhiều hãng luật quốc tế thì nhận định: “Đây không chỉ là cuộc chiến pháp lý mà là một phương cách chính thống nêu quan điểm chính thức và dứt khoát của Việt Nam về việc này trước dư luận quốc tế. Đây cũng là cơ hội để phản bác lại lập luận của một số học giả Trung Quốc cho rằng Việt Nam đã không có bất kỳ phản đối chính thức nào về việc chiếm đóng liên tục của Trung Quốc trên đảo Hoàng Sa.

 

Bản thân việc khởi kiện đã là một lời tuyên bố mạnh mẽ của Việt Nam về niềm tin vào công lý và luật pháp quốc tế và là một lời kêu gọi cộng đồng quốc tế quan tâm thật sự vào việc này. Hiện tại, vì tiềm lực kinh tế của Trung Quốc rất mạnh và hầu như rất nhiều nước trên thế giới có quan hệ kinh tế với Trung Quốc, do đó, cho dù họ muốn lên tiếng ủng hộ Việt Nam thì cũng phải có một cái cớ và một cơ sở nào đó. Cơ sở pháp lý đưa ra tại một cơ quan tài phán sẽ là cơ sở để cộng đồng quốc tế nhìn vào đó mà lên tiếng ủng hộ”. 

 

Theo luật sư Trinh Nguyễn, đây là thời cơ tốt nhất để Việt Nam đưa các cơ sở pháp lý của mình ra một cơ quan tài phán để khẳng định rằng Việt Nam luôn khẳng định và chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền đã được thiết lập của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong trận chiến pháp lý, khi thời cơ đã đến thì phải nắm lấy và hành động. Một số ý kiến quan ngại các khó khăn mà Việt Nam sẽ gặp phải như việc Trung Quốc sẽ từ chối không tham gia vụ kiện hoặc cần phải kiện ở tòa nào và đưa ra các yêu cầu khởi kiện gì. Đây là các vấn đề kỹ thuật pháp lý sẽ được xử lý bởi các chuyên gia pháp lý chứ không phải là những trở ngại cho chủ trương khởi kiện.

 

Trung Quốc đã cố tình áp dụng sai Công ước

 

TS. Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Ban Biên giới của Chính phủ, nay là Ủy ban Biên giới Quốc gia, Bộ Ngoại giao khẳng định, Trung Quốc đã cố tình áp dụng sai nội dung quy định tại Điều 47 về quy chế “quốc gia quần đảo” của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 để biện minh cho yêu sách vô lý, đầy tham vọng của họ. Công ước chỉ quy định cách vạch đường cơ sở thẳng cho quốc gia quần đảo, chứ không quy định cách vạch đường cơ sở thẳng cho các quần đảo, không phải là quốc gia quần đảo. 

Các chuyên gia bàn về Giải pháp khởi kiện Trung Quốc

PGS. TS Nguyễn Bá Diến

Theo TS. Trần Công Trục, quần đảo Hoàng Sa không phải là quốc gia quần đảo, vì thế, không thể vạch ra hệ thống đường cơ sở để từ đó xác định phạm vi các vùng biển và thềm lục địa cho quần đảo này: “Họ vận dụng Công ước nhưng lại rất sai. Công ước 1982 quy định, một quốc gia quần đảo có quyền quy định đường cơ sở bao quanh toàn bộ quần đảo và đảo của quốc gia quần đảo, phía ngoài có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đấy là đối với quốc gia quần đảo, còn chưa có điều khoản nào nói rằng, các quần đảo của quốc gia ven biển được phép quy định đường cơ sở bao quanh quần đảo đó.” 

 

Theo TS. Nguyễn Thị Lan Anh, Phó trưởng Khoa Luật Quốc tế, Học viện Ngoại giao, vị trí Trung Quốc đặt giàn khoan hiện nay nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam: “Điều 57 Công ước Luật Biển quy định rằng, chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia ven biển không vượt quá 200 hải lý. Đồng thời tại Điều 76 của Công ước Luật Biển quy định rằng, một trong các cách để lựa chọn để xác định thềm lục địa của quốc gia ven biển tối thiểu là 200 hải lý. Nếu chiểu theo ranh giới 200 hải lý thì vị trí đặt giàn khoan nằm sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.” 

 

Hành động này của Trung Quốc là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng luật pháp quốc tế và Tuyên bố Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc là một bên tham gia ký kết; đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. 

 

Luật sư Trinh Nguyễn thì cho rằng, các chứng cứ khởi kiện có thể được phân loại thành từng nhóm theo những tiêu chí nhất định, bao gồm nhưng không giới hạn: chứng cứ xuất phát từ tư liệu lịch sử, chứng cứ xuất phát từ pháp luật quốc tế, chứng cứ xuất phát từ những sự kiện đã xảy ra trên thực tế…

 

Chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam là loại chứng cứ có giá trị chứng minh rất quan trọng trong giải quyết tranh chấp chủ quyền bởi chúng đã được tạo lập khi tranh chấp chưa phát sinh và hoàn toàn mang tính khách quan, bao gồm: Các bản đồ đã được vẽ trong các giai đoạn lịch sử trước đó bởi người Việt Nam hoặc người nước ngoài;  Các tài liệu bằng văn bản như: các nhật ký hải trình của các hãng vận tải, các đoàn khảo sát; Các tài liệu do các nhà khoa học công bố tập thể hoặc cá nhân, nhân danh nhà nước hoặc công bố độc lập; Các tài liệu của sử gia Việt Nam; Các tài liệu của các tác giả nước ngoài.

 

Chứng cứ pháp lý xuất phát từ quy định của pháp luật quốc tế là các văn bản pháp lý, các điều ước quốc tế đã được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử của Việt Nam cũng có giá trị chứng cứ lịch sử rất quan trọng; Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS); Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông 04/11/2002 (Declaration on the Conduct of parties in the South China Sea), thể hiện sự đồng thuận về ý chí giữa các quốc gia trong khu vực về một giải pháp cho tranh chấp biển Đông. 

 

Qua các ý kiến chuyên gia có thể thấy, Việt Nam có thể đơn phương kiện Trung Quốc về việc: Giải thích và áp dung sai Công ước Luật Biển 1982 và hành động sử dụng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ, vi phạm các quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam. 

 

Chứng cứ pháp lý xuất phát từ sự chiếm hữu thực tế, thể hiện thông qua các chứng cứ lịch sử mà Việt Nam đã thể hiện, cụ thể: Các tài liệu chứng minh Việt Nam đã liên tục khai thác các tài nguyên khoáng sản trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; Các tài liệu chứng minh Việt Nam thực hiện quyền quản lý hành chính đối với các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam; Các tài liệu chứng minh ngư dân Việt Nam vẫn khai thác nguồn lợi thủy hải sản từ các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới sự hỗ trợ của các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước Việt Nam; Các tài liệu chứng minh dân cư Việt Nam hiện đang cư trú, sinh sống trên các quần đảo Việt Nam tuyên bố chủ quyền; Các tài liệu chứng minh sự phản ứng của Nhà nước và nhân dân Việt Nam đối với hành động xâm phạm chủ quyền của các nước khác đối với vùng biển đảo mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.


“Chúng ta có quyền đơn phương khởi kiện. Chúng ta có một niềm tin tất thắng vào chính nghĩa, đó là pháp lý quốc tế ủng hộ chúng ta. Chúng ta có bằng chứng lịch sử, pháp lý để chứng minh chủ quyền của chúng ta đối với Hoàng Sa cũng như trên Biển Đông. Rõ ràng, Trung Quốc không có bất cứ căn cứ pháp lý quốc tế nào để biện minh cho các hành vi, tham vọng của họ trên Biển Đông. Vi phạm luật pháp quốc tế là tử huyệt, là điểm yếu nhất của Trung Quốc.” - PGS.TS Nguyễn Bá Diến.

Ông Murray Hiebert, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á - CSIS, Canada cho rằng, chính việc thông qua cơ quan tài phán có thẩm quyền sẽ giúp cho vấn đề được giải quyết một cách sòng phẳng và đơn giản hơn nhiều: “Tôi cho rằng, các bạn muốn giải quyết vấn đề này, thì các bạn nên đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế để họ nghiên cứu tài liệu và đưa ra phán quyết. Bằng cách này, hai bên đều có cơ hội trình chứng cứ của mình lên tòa án. Về lâu dài, đó là cách thức tốt nhất để giải quyết vấn đề.” 

 

Thái Bảo
Bạn đang đọc bài viết Các chuyên gia bàn về Giải pháp khởi kiện Trung Quốc tại chuyên mục Chính trị của Báo điện tử Công lý. Mọi thông tin chia sẻ, phản hồi xin gửi về hòm thư conglydientu@congly.vn, Hotline 091.2532.315 - 096.1101.678

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật